“Chạm” tay vào giấc mơ lãng mạn “La La Land”

(CLO) Đã lâu lắm rồi, tôi mới được thưởng thức trọn vẹn một bộ phim tại rạp mà cả rạp phải nín lặng để theo dõi “buổi hòa nhạc” tuyệt vời này. Không ai trò chuyện, cũng chẳng ai sử dụng điện thoại và cũng quên cả tiếng sột soạt bỏng ngô vẫn thường thấy. Tôi đã thấy những giọt nước mắt, tiếng trái tim dường như lắng lại tại từng trường đoạn của bộ phim khiến người xem gần như nín thở…

3-3
La La Land thuộc thể loại ca vũ nhạc và do đạo diễn Damien Chazlle thực hiện. Phim có sự góp mặt của hai diễn viên Emma Stone – Ryan Gosling.

Một điều mà tôi vô cùng khâm phục ở “La La Land” chính là hiệu ứng ánh sáng được sử dụng trong phim. Thật quá đỗi tuyệt vời. Một kẻ ngoại đạo chẳng hiểu gì về nghệ thuật ánh sáng trong nhiếp ảnh và trong phim điện ảnh như tôi, mà lại có thể nhận được dụng ý của đạo diễn trong từng phân cảnh của phim.

Tôi mơ hồ cảm nhận thôi nhưng cũng đủ “sung sướng” khi dường như người làm phim đang đùa giỡn với ánh sáng vậy. Nó tạo cho tôi một cảm giác khó tả, như lạc bước vào một cõi thần tiên trong truyện cổ tích giữa đời thường vậy.

Đó là khi ánh sáng nhẹ nhàng chìm xuống cùng với cảm xúc của, “đánh” le lói nhẹ nhàng như hắt vào nhân vật mỗi khi bước qua những cây đèn trên phố hay nổi lên những bức tranh tường, thực sự như một cuộc trình diễn khéo léo sắp đặt được kết hợp giữa ánh sáng và âm nhạc và diễn xuất của diễn viên.

Tôi như mơ hồ rằng mình đang được xem, được hóa thân vào một vở nhạc kịch trực tiếp trên sân khấu mà người thợ điều khiển ánh sáng và chuyển cảnh thực sự điêu luyện như đang đưa đôi bàn tay khua khuắng trong một chiếc hộp bé tẹo mà họ vô cùng biết rõ về nó.

Cùng với đó là cuộc dạo chơi trên màu sắc cứ như được trình diễn vậy. Với một kẻ là fan của phong cách vintage hay retro như tôi thì… khỏi nói. Tôi đã từng được theo bạn đi chụp ảnh film, những chiếc ảnh được tự rửa trong phòng tối, từ chiếc máy ảnh Leica, cả trò cố tình chồng phim cho ra những bức ảnh cầm lên chỉ thấy… gai người mà không biết diễn tả như thế nào.

lalaland
Hiệu ứng ánh sáng làm nên sự thành công lớn cho La La Land.

Một kí ức về màu sắc như vậy mà tôi cứ cho rằng, chắc hẳn với kĩ thuật làm sao mà những chiếc máy quay cộng với phần mềm dựng film lại có thể cho ra được thứ màu sắc y như được tuôn ra từ một chiếc máy ảnh Leica số dzách được. Cái thứ màu thật nhất mà không một chiếc máy số nào lột tả được, giống màu nguyên bản của sự vật hiện hữu quanh đây, nhưng ấy thế mà lại ko phải “copy” vì nó được pha thêm chất “nghệ” và cổ điển…

Thật một thiếu sót nếu không nhắc đến sự cảm thụ âm nhạc của “La La Land”. Thú thật tôi hầu như chưa thích một musical film nào. Có lẽ bởi tôi thấy hơi khó chịu và phi lý một chút khi nhân vật cứ đang thoại lại quay ra… hát. Chắc ngoài đời có người thế thì đối phương trợn mắt nghĩ bụng là điên mất.

Thế nhưng, với “La La Land” thì đích thực, chắc chắn nó phải là một phim âm nhạc. Bởi thoại và hát quá đỗi tự nhiên, quá đỗi chạm được vào sự thẩm thấu đầy rung cảm của từng ấy khán giả đang ngồi trong phòng. Tôi thầm cảm ơn vì mình được xem nó trong một phòng tương đối nhỏ, không phải là phòng loại lớn cho những suất chiếu đầu tiên của film mới với đông khán giả lấp đầy ghế. Nhỏ như này là đúng rồi, vì tôi cần yên tĩnh để thưởng thức vở nhạc kịch đang diễn ra trên sân khấu, nơi tôi chỉ cần vươn cánh tay là có thể chạm vào bối cảnh hay diễn viên.

LLL d 41-42_6689.NEF
Câu chuyện lãng mạn, diễn xuất thuyết phục, âm nhạc lôi cuốn, có rất nhiều điều biến “La La Land” trở thành tác phẩm sáng giá.

Khúc nhạc được lặp đi lặp lại trong phim là bản độc tấu piano Mia & Sebastian’s theme. Và vì tôi cũng là kẻ chẳng biết chút xíu gì về âm nhạc nhưng tôi cũng thích Jazz (có lẽ vì nó cũng cũ kĩ như với style vintage hay retro mà tôi thích), thích theo đúng kiểu thích vì thích thôi chứ chả hiểu gì. Đơn giản là giai điệu ấy dường như đã chạm tới trái tim.

Khúc nhạc Mia & Sebastian’s theme cất lên khiến tôi thêm một lần nữa thấy gai người. Tôi hoàn toàn bị khuất phục chịu, xâm chiếm bởi những ám ảnh, đắm chìm không lối ra trong những thanh âm ấy. Buồn quay quắt, trở đi rồi trở lại, như một vết dao cứa vào da thịt, bởi con dao cùn nên nỗi đau cứ dấm dứt chưa tắt.

Bởi có nốt rơi xuống như một giọt máu đọng lại, lăn dài, chảy vào khoé miệng lại hoá thành nước mắt. Bởi nó cũng ám ảnh như đoạn nhạc El condor pasa của lũ trẻ hippie thổi sáo bên mộ Jim Morrison trong nghĩa trang Pere la chaise ở Paris cách đây 8 năm. 8 năm qua tôi đứng chôn chân ngây dại nghe đoạn nhạc ấy và vẫn mong tương lai sẽ có một đoạn nhạc khác có thể xâm chiếm được trái tim, ám ảnh và che phủ đi El condor pasa. Có lẽ tôi đã tìm thấy.

Hai lần nước mắt tôi lăn dài trên má. Lần thứ nhất là lúc Mia và Sebastian nhìn thấy nhau sau 5 năm và lần thứ 2 lúc kết thúc phim. Gặp lại tình cờ, ai cũng đã thực hiện được ước mơ của mình, Sebastian làm chủ một jazz club như anh hằng khao khát, anh suýt bỏ cuộc vì ko có tiền, vì phải chơi thứ âm nhạc theo thị hiếu mà anh ko thích.

Mia cũng trở thành diễn viên nổi tiếng sau hàng triệu lần thử vai không thành, cô cũng suýt từ bỏ ước mơ nếu không phải là chính anh tới tìm cô để đưa tới buổi thử vai cuối cùng. Nhưng giờ đây hai người đã khác, Mia có gia đình riêng. Tình yêu giữa họ như lần chia tay cuối cùng với câu nói “i always love you” đều được thốt ra từ cả hai, giờ đã thành sự trớ trêu.

LLL d 29 _5194.NEF
Một trong những khoảnh khắc đẹp nhất trong bộ phim này là màn khiêu vũ siêu thực của Sebastian và Mia tại đài thiên văn Griffith.

Thế nhưng bốc chốc cảnh chuyển về quá khứ như những trang sách được lật lại. Họ cùng nhau thực hiện ước mơ của mỗi người. Họ kết hôn và sinh con. Họ cùng nhau bước chân vào jazz club này. Một vài tiếng khán giả khẽ nói: “Ơ thế là thế nào?”.

Không hẳn, đạo diễn hoá ra chỉ để những thước phim ấy là tưởng tượng về viễn cảnh tươi đẹp khi Sebastian chơi bản piano năm xưa còn Mia đứng ngây dại bên dưới khán phòng. Bản nhạc đó như dòng chảy cuốn quanh và nối liền hai tâm hồn, hai tinh thần kẻ vẫn còn đang chất chứa tình cảm kia. Có thể họ vẫn còn yêu? Họ đang ước rằng giá như ngày đó…Nhưng điều ấy đến lúc này có lẽ chẳng còn quan trọng.

Hơn thảy, họ đồng điệu, họ thuộc về nhau, họ đã từng là của nhau. “I always love you” vì thế vẫn đúng với cả hai. Kết film, khán giả đờ ra 1 lúc rồi bắt đầu có tiếng vỗ tay, mọi người lần lượt vỗ tay, chậm, vừa đủ nghe nhưng dai dẳng như những tưởng thưởng cho thứ cảm xúc từ ngạc nhiên đến lay động trái tim của một show diễn ngoài sức tưởng tượng trên sân khấu.

Những kẻ khờ thì thường mộng mơ. Những người mộng mơ thì lắm dại khờ. Câu nào cũng đúng, bởi có lẽ mộng mơ chẳng đi với khôn ngoan hay chẳng khờ dại thì đã người thực tế. “You may say i’m a dreamer, but i’m not the only one”, John Lennon người nghệ sỹ năm nào chẳng từng đã nói vậy.

Đó vẫn là tuyên ngôn của những kẻ sĩ lãng mạn bao thế hệ. Và bởi tôi là kẻ lãng mạn nửa mùa, mộng mơ chút ít, chưa bao giờ thôi dại khờ với những cảm xúc của chính mình nên tôi thích bộ phim này. “La La Land” cũng như Neverland vậy, tôi quyết định không có gì là xấu hổ và ngoan cố chấp thuận việc tôi sẽ không lớn, một khi tôi còn thích mình như thế này.

Và bởi thế, những ai cảm thấy hơi thiếu mộng mơ hay quá nhiều thực tế, hãy thử một lần bước chân vào thế giới của màu sắc, ánh sáng và âm nhạc tuyệt vởi này xem…

Thu Thủy