Dệt may Việt Nam chỉ chiếm 1% tổng giá trị nhập khẩu của EU

(CLO) Hàng dệt may Việt Nam hiện đã có chỗ đứng tại hầu hết các thị trường trên thế giới, trong đó, chỉ riêng 3 thị trường chính là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc đã chiếm gần 70% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may cả nước. Triển vọng tăng trưởng kim ngạch dệt may tại các thị trường nhập khẩu chủ yếu còn rất lớn. Đặc biêt, Việt Nam mới chỉ chiếm khoảng 1% tổng giá trị nhập khẩu hàng dệt may của thị trường EU. Tuy nhiên, trong bối cảnh đường rộng nhưng khó đi, việc xúc tiến xuất khẩu mặt hàng này trong thời gian tới không phải vấn đề đơn giản.

Xuất hiện nhiều đối thủ

Tại Hội thảo Phát triển thương mại Việt Nam giai đoạn 2016-2025, Ths Đỗ Kim Chi, Phó Trưởng ban Nghiên cứu và dự báo thị trường – Viện nghiên cứu thương mại đánh giá: Việc Việt Nam tích cực tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đã mở rộng tiếp cận thị trường cho hàng xuất khẩu nói chung và hàng dệt may xuất khẩu nói riêng. Tuy nhiên, thị phần hàng dệt may của Việt Nam, đặc biệt là hàng dệt, vẫn nhỏ hơn nhiều so với Trung Quốc – đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam trong xuất khẩu hàng dệt may sang các nước khác.

Trung Quốc chiếm tới 36,59% tổng xuất khẩu hàng dệt và 38,63% tổng xuất khẩu hàng may mặc thế giới trong khi tỷ trọng tương ứng của Việt Nam mới chỉ đạt 1,59% và 4,49%.

“Nguyên nhân chủ yếu là do năng lực cạnh tranh kém của hàng dệt may Việt Nam so với Trung Quốc trên thị trường thế giớI”, bà Chi nhận định.

dmay
Triển vọng tăng trưởng kim ngạch dệt may của Việt Nam tại các thị trường nhập khẩu chủ yếu còn rất lớn đặc biệt là thị trường EU. (Ảnh Internet)

Theo đó, một số lợi thế cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam đang có xu hướng giảm sút. Trước đây chi phí lao động ngành dệt may Việt Nam tương đối thấp so với nhiều nước trong khu vực. Lợi thế nhân công rẻ tạo điều kiện giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành, giúp các doanh nghiệp dệt may cạnh tranh về giá cả. Hiện lợi thế này đang dần mất đi khi lương cơ sở và lương tối thiểu đều được điều chỉnh tăng dần.

Thêm vào đó, ngành dệt may Việt Nam lại thiếu hụt nguồn nhân lực có kỹ năng và đội ngũ nhân sự lành nghề về kỹ thuật trong lĩnh vực dệt, nhuộm. Hơn nữa, chi phí lao động rẻ nhưng chi phí bình quân cho 1 đơn vị sản phẩm vẫn cao hơn của Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia tới 30% – 40%. Năng suất lao động Việt Nam thấp và chỉ bằng 2/3 so với các nước trong khu vực.

Bà Chi cho rằng, áp lực tỷ giá khiến giá hàng xuất khẩu của Việt Nam cũng kém cạnh tranh hơn khi xu hướng phá giá đồng nội tệ so với đồng USD của các nước xuất khẩu dệt may đang diễn ra mạnh mẽ. Thủ tục hành chính nặng nề, các khoản chi phí chính thức và cả không chính thức cao cũng đang tạo gánh nặng cho doanh nghiệp.

Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), sau quý I/2016, hàng loạt khách hàng quen thuộc của Việt Nam đã chuyển đơn hàng sang Myanmar, Lào bởi họ được hưởng ưu đãi về thuế khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ, EU. Trong khi đó, TPP hay EVFTA của Việt Nam với EU vẫn chưa có hiệu lực.

Không chỉ Myanmar, Lào đang hút đơn hàng dệt may của Việt Nam mà cả Campuchia năm 2015 cũng vượt Việt Nam trong xuất khẩu hàng may mặc vào EU do Campuchia đang được hưởng thuế suất ưu đãi 0% theo chương trình GSP dành cho các nước kém phát triển, trong khi Việt Nam chỉ được hưởng ở nhóm các nước đang phát triển là 9,6%.

Khai thác lợi thế

Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, về dư địa tăng trưởng từ nỗ lực nội tại thì hàng dệt may còn nhiều khả năng tăng trưởng trong thời gian tới khi mà còn có thể cải thiện để tăng thêm khoảng 30% về năng suất lao động, tăng thêm 20% tỷ lệ nội địa hóa qua việc phát triển mạnh hơn công nghiệp phụ trợ, tăng về chất lượng sản phẩm và nhất là tăng năng lực thiết kế thời trang nhằm chuyển phương thức xuất khẩu từ phương thức OEM (gia công đơn thuần) sang ODM (bán sản phẩm có cả thiết kế).

Tuy đây là điểm yếu nhất của ngành may mặc Việt Nam hiện nay nhưng cũng chính là dư địa để ngành có thể tăng trưởng mạnh trong thời gian tới nếu được tập trung cải thiện đúng hướng. Điều quan trọng là Việt Nam khai thác được các lợi thế của mình để nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu.

Ths Chi cho rằng, việc tận dụng các FTAs đã được nhắc tới nhiều lần nhưng luôn là vấn đề mấu chốt. Khi các FTA thế hệ mới giữa Việt Nam với Liên minh Kinh tế Á – Âu (EAEU), FTA Việt Nam – EU (EVFTA) và TPP có hiệu lực, dệt may vốn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam tiếp tục được kỳ vọng là một ngành được hưởng lợi nhiều nhất.

Để hưởng được những lợi ích TPP hay EVFTA, ngành dệt may phải đáp ứng những yêu cầu hết sức khắt khe về xuất xứ. Nhưng hiện nay, bất cập lớn nhất của dệt may Việt Nam trong chuỗi cung ứng là khâu cung cấp nguyên, phụ liệu đầu vào.

“Để đáp ứng yêu cầu về xuất xứ, ngành dệt may Việt Nam cần đầu tư vào ngành dệt và ngành tẩy nhuộm cũng như tăng cường liên kết giữa ngành sợi dệt và may mặc, hình thành các chuỗi cung ứng hữu cơ, liên kết cung ứng theo nguyên tắc thị trường từ sợi – vải – may.

Bên cạnh đó, nhà nước và các cơ quan chức năng nên có những hướng dẫn cụ thể các nội dung quy định về thuế, hải quan, tiêu chuẩn của các FTA để giúp các doanh nghiệp dệt may Việt Nam tận dụng tốt các cơ hội xuất khẩu với những ưu đãi thuế quan giúp các doanh nghiệp dệt may hội nhập thành công”, bà Chi cho biết.

Giang Phan

 

Bình luận