Ngày 4/10/2018, Hội nghị tổng kết 30 năm dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam sẽ được tổ chức tại Hà Nội dưới sự chủ trì của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. FDI đóng góp tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam như: tạo ra phương thức thu hút đầu tư lớn, góp phần quan trọng vào xuất khẩu, đóng góp vào ngân sách, dịch chuyển cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ công nghệ… Sự xuất hiện của các doanh nghiệp FDI không những là mắt xích quan trọng mà còn tạo đòn bẩy để Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, đặc biệt là những đóng góp lớn trong xuất khẩu. Tuy nhiên, nếu ví nền kinh tế Việt Nam như một “cỗ xe” thì các doanh nghiệp FDI là một “chiếc bánh quay” khá mạnh và hiệu quả nhưng lại thiếu tương tác với những chiếc bánh còn lại là các doanh nghiệp trong nước. Đây là thực tế đã diễn ra từ lâu và hiện được xem là một trong những hạn chế lớn nhất cần khắc phục trong thời gian tới.

Những bước tiến dài

Theo thống kê của Cục Xuất Nhập khẩu (Bộ Công Thương), từ 10 tỷ USD năm 1988 khi Việt Nam mới thu hút FDI, tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước tăng dần lên 50 tỷ USD, 100 tỷ USD và dự kiến là 225 tỷ USD trong năm 2018 này.

Đáng lưu ý, xuất khẩu giai đoạn 2011- 2015, bình quân tăng 17,6%/năm, cao hơn mục tiêu trong Chiến lược Xuất nhập khẩu đến năm 2020, định hướng đến 2030, cũng như mục tiêu của Đại hội Đảng lần thứ XI (tăng 12%). Với tốc độ tăng luôn cao hơn mức tăng chung, khối FDI đã có vai trò quyết định duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu cao của cả nước.

Điểm mốc đáng nhớ là trong năm 2015 đã có 23 mặt hàng lọt Top câu lạc bộ tỷ USD và cũng là năm mặt hàng điện thoại di động vươn lên đứng đầu với kim ngạch 30,6 tỷ USD, tham gia vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu.

Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất Nhập khẩu (Bộ Công Thương) nhấn mạnh, nếu như cách đây 6 năm, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước vẫn nhỉnh hơn so với các doanh nghiệp FDI thì đến nay, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã cao gấp 3 lần các doanh nghiệp trong nước.

Các doanh nghiệp FDI hiện đóng góp gần 20% tổng thu ngân sách Nhà nước, tăng 10 lần so với năm 2000. Đáng lưu ý, trên 50% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của Việt Nam đến từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Mặc dù chỉ trong thời gian ngắn, các doanh nghiệp FDI đã có những bước tiến dài, nhưng tác động tới các doanh nghiệp trong nước lại rất mờ nhạt.

Ông Trần Thanh Hải cũng chỉ ra thực tế như việc Tập đoàn Samsung hiện sản xuất 40% smartphone (điện thoại thông minh) tại Việt Nam, xuất khẩu năm qua đạt kim ngạch 50 tỷ USD, tương đương tổng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước. Nhưng hiện chỉ có chưa đến 30 doanh nghiệp trong nước tham gia được vào chuỗi sản xuất của Samsung tại Việt Nam.

Ngoài ra, vẫn còn nhiều hiện tượng trốn thuế, chuyển giá của một số doanh nghiệp là những con sâu mà lâu nay chưa thể loại trừ triệt để. Những dự án gây ô nhiễm môi trường là bài học cảnh tỉnh rất đắt giá trong việc thu hút FDI.

Đặc biệt, những dự án công nghệ rác, công nghệ lạc hậu vẫn tìm cách thâm nhập vào Việt Nam hay vi phạm và tranh chấp lao động đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người lao động và gây thiệt hại cho doanh nghiệp vẫn đang là vấn đề nan giải hiện nay.

Hơn nữa, việc chuyển giao, tiếp thu công nghệ từ các doanh nghiệp FDI đã được đặt ra từ nhiều năm nay nhưng kết quả rất hạn chế, không như kỳ vọng.

Hiệu ứng lan tỏa của các doanh nghiệp nước ngoài tới các doanh nghiệp Việt như: việc phát triển công nghiệp phụ trợ và tham gia chuỗi giá trị sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế cũng là những điểm yếu cần khắc phục ngay trong tương lai.

leftcenterrightdel
 

Chuyển hướng chiến lược trong thu hút FDI

Nhìn lại 30 năm qua cho thấy, bên cạnh đóng góp lớn cho phát triển kinh tế xã hội, thu hút FDI thời gian qua vẫn để lại những dấu lặng trầm buồn, khi câu hỏi được và mất gì trong thu hút FDI vẫn được đặt ra, đặc biệt khi những hạn chế trong thu hút FDI chưa thực sự được cải thiện.

Về vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho rằng, bên cạnh những kết quả, đóng góp tích cực, quá trình thu hút FDI cũng đã bộc lộ những mặt hạn chế, tiêu cực cần sớm được khắc phục. Đó là sự liên kết giữa khu vực FDI và DN trong nước còn lỏng lẻo, tỷ lệ nội địa hóa thấp, nhất là đối với ngành công nghiệp ô tô, điện tử; số dự án công nghệ cao do các tập đoàn xuyên quốc gia đầu tư còn ít, một số dự án gây ô nhiễm môi trường, trong đó có những sự cố môi trường nghiêm trọng như trường hợp của Formosa Hà Tĩnh, Vedan Đồng Nai; việc sử dụng tài nguyên, nhất là đất đai còn lãng phí; tại một số dự án đã và đang xảy ra hiện tượng chuyển giá, làm thất thu thuế…

Theo ông Sebastian Eckardt, Chuyên gia Kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, để đáp ứng được mục tiêu phát triển của đất nước trong giai đoạn tới, cần phải có những chuyển hướng chính sách, phải có chính sách chiến lược và kèm theo một kế hoạch hành động gắn liền với việc cải cách môi trường đầu tư, chính sách và thể chế cụ thể, nhằm thu hút FDI thế hệ mới, và nhằm khai thác tối đa những tiềm năng mà FDI mang lại cho Việt Nam. Theo đó, chuyên gia này đã đưa ra các khuyến nghị cho Việt Nam trong thu hút FDI, trong đó có những khuyến nghị đáng chú ý như: Cần thiết lập một cơ quan quản lý FDI thế hệ mới; cần đưa ra những chính sách cụ thể nhằm tăng cường kết nối và hiệu ứng lan tỏa từ FDI; cần xây dựng “Môi trường đầu tư 4.0” phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp trong kỷ nguyên số. Đặc biệt, cần cải cách sâu rộng khuôn khổ ưu đãi hiện hành và tái cân bằng đối với các ưu đãi dựa trên hiệu quả hoạt động đầu tư.

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho rằng, đã đến lúc chúng ta cần hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh để lựa chọn, thu hút các dự án FDI chất lượng cao, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cũng như những biến đổi của khoa học công nghệ trong cuộc cách mạng 4.0 và xu hướng chuyển dịch dòng vốn đầu tư quốc tế. Theo đó, thời gian tới cần phải tập trung ưu tiên thu hút các dự án công nghệ cao của các tập đoàn xuyên quốc gia trong các lĩnh vực công nghiệp chế tạo, nông nghiệp hiệu quả cao, công nghệ thông tin và các lĩnh vực dịch vụ mà Việt Nam có tiềm năng và lợi thế so sánh. Đó cũng phải là các dự án thân thiện với môi trường, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, low-carbon và phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Chúng ta cũng sẽ ưu tiên thu hút các dự án có sức lan tỏa, gắn kết với khu vực DN trong nước.

Theo TS. Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Để thu hút FDI có chất lượng, nâng cao tính lan tỏa, thì đào tạo và chuẩn bị đội ngũ nhân lực chất lượng cao, kỹ sư lành nghề là rất quan trọng. Chính điều này sẽ thúc đẩy liên kết, đưa các DN FDI tự tìm đến với DN trong nước. Cần đưa những nhân lực này vào các DN liên doanh với nước ngoài để tiếp thu công nghệ, do đó thành lập nhiều DN liên doanh cũng phải là định hướng trong thu hút FDI thời gian tới.

Ông Nguyễn Văn Toàn, Phó Chủ tịch Hiệp hội DN Đầu tư nước ngoài cho biết: Một điểm yếu của vốn FDI là thu hút FDI vào lĩnh vực nông nghiệp, khi mà tỷ trọng đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản từ đầu năm đến nay rất thấp đạt 91 triệu USD. Những năm gần đây thu hút FDI vào nông nghiệp hằng năm cũng chỉ đạt khoảng 100 triệu USD, từ chiếm tỷ lệ 2% tổng đầu tư nước ngoài xuống dưới 1%. Lũy kế tính đến tháng 7/2018, đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp là 3,379 tỷ USD, chưa đến 1% trong tổng đầu tư nước ngoài Việt Nam. Hạn chế này từ khu vực FDI cũng cho thấy điều tích cực là chính doanh nghiệp trong nước (Vingroup, HAGL, TH, FLC) đang đi tiên phong vào đầu tư nông nghiệp chứ không phải đầu tư nước ngoài. Thời gian tới chúng ta cần có giải pháp để cải thiện.

Khánh An