1. Tại kỳ họp cuối năm 2018, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 2019. Theo đó, mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2019 được đặt ra ở mức 6,6 - 6,8%. Nghị quyết nêu rõ mục tiêu tổng quát là: Tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tính tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tập trung cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; tạo chuyển biến thực chất hơn trong thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến và tận dụng có hiệu quả cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Năm 2019 được coi là năm “bản lề”, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2016 - 2020, thậm chí là Chiến lược 10 năm 2011 - 2020. Vì vậy, đánh giá chung bức tranh kinh tế 2019 qua các chỉ tiêu Chính phủ đề ra và qua thực tiễn kinh tế 2018, TS. Lê Đình Ân - nguyên Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế Xã hội Quốc gia nhận định, kinh tế 2019 vẫn trên đà phát triển tích cực, kinh tế vẫn giữ được mức tăng trưởng tốt. Những nỗ lực của Chính phủ trong cải thiện môi trường kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính, xây dựng Chính phủ kiến tạo đã tạo niềm tin và sự phấn khởi trong cộng đồng doanh nghiệp (DN).

leftcenterrightdel
 

TS Ân cho rằng, với các Hiệp định thương mại đã ký kết, cách làm ăn, chiến lược phát triển, tư duy của DN cũng như tư duy trong điều hành kinh tế cũng sẽ được đổi mới, nhờ đó tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh của DN trong nước phát triển. Với riêng Hiệp định CPTPP, trong năm 2019, Hiệp định này chưa tác động gì tới nền kinh tế, nhưng sẽ là yếu tố động viên, tạo không khí phấn khởi trong kinh doanh. “Chỉ tiêu tăng trưởng GDP 2019 Chính phủ đặt ra theo tôi là khiêm tốn, mục tiêu này nhằm tạo ra sự vững chắc cho tăng trưởng, đồng thời tạo ổn định các cân đối của nền kinh tế”, ông Ân cho hay.

Theo TS Lê Đình Ân, các yếu tố tăng trưởng của giai đoạn 2017-2018 không ổn định, kinh tế vẫn phụ thuộc vào khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), xuất khẩu vẫn phụ thuộc vào các thị trường lớn, do đó, xác định tăng trưởng GDP năm 2019 ở mức 6,6% - 6,8% là phù hợp và có khả năng thực hiện hơn nếu tình hình tương đối tốt. Ví dụ, Samsung ổn định sản xuất và có kế hoạch sản xuất tốt, Formosa tăng dây chuyền sản xuất, đưa lọc dầu Nghi Sơn và một số công trình khác vào hoạt động…

“Với các Hiệp định thương mại đã có hiệu lực, Việt Nam có khả năng tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu. Bên cạnh đó, nếu biết khai thác tốt, có chính sách linh hoạt thì có thể chen chân để tận dụng những cơ hội từ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung khi có điều kiện. Với sản xuất công nghiệp tại một số đầu tàu tăng, nông nghiệp giữ vững cơ cấu, xuất khẩu vẫn giữ được thị trường thì tăng trưởng 6,7-6,8% là có cơ sở, chưa nói đến mục tiêu 7% cũng có khả năng đạt được”, TS Lê Đình Ân nhận định.

Các dự báo của các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) mới đây cũng đều có cái nhìn tích cực về kinh tế Việt Nam năm 2019, với mức tăng trưởng dự báo khoảng 6,8%. Trong khi đó, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia đã xây dựng 2 kịch bản tăng trưởng kinh tế năm 2019, với mức tăng trưởng thậm chí lên tới 6,9 - 7,1%, tương ứng với mức lạm phát 4% và 4,5%.

leftcenterrightdel
 

2. Nhìn lại năm 2018, với sự tăng trưởng khá bền vững và ổn định của các chỉ tiêu kinh tế, Việt Nam đang được đánh giá như một quốc gia có chính sách kinh tế hiệu quả. Nhật báo The Peninsula Qatar của Qatar ngày 12/8 có bài viết “Việt Nam nổi lên thành “con hổ” kinh tế mới của châu Á”. Bài báo trích dẫn đánh giá của Ngân hàng trung ương Qatar (QNB) khẳng định rằng, con hổ mới nhất của châu Á hiện nay là Việt Nam, với những số liệu cập nhật cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng mạnh trong năm 2018, trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Các chuyên gia của QNB phân tích một loạt chỉ số và kết luận nền kinh tế Việt Nam đang phát triển bùng nổ, với GDP trong 6 tháng đầu năm 2018 tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2017. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đang dẫn đầu với mức sản lượng trong 6 tháng đầu năm tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước. Theo các nhà phân tích của QNB, sự bùng nổ trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam khiến xuất khẩu tăng vọt. Xuất khẩu hàng hóa trong nửa đầu năm 2018 tăng hơn 20% so với cùng kỳ năm trước và cao hơn mức 17% của cả năm 2017.

Thành công của công nghiệp chế biến, chế tạo và xuất khẩu đạt được là nhờ khả năng của Việt Nam trong thu hút các dòng vốn lớn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Dòng vốn FDI vào Việt Nam đang bùng nổ với giá trị ước tính đạt 13 tỷ USD trong nửa đầu năm 2018, tăng 11% so với cùng kỳ năm trước. Nhận thấy Việt Nam là môi trường đầu tư đầy thuận lợi nên các công ty công nghệ trên thế giới cũng đang đổ vốn với tốc độ rất nhanh vào Việt Nam. Theo báo The Economist, Samsung đã đầu tư vào Việt Nam tổng cộng 17 tỷ USD với những nhà máy sản xuất gần 1/3 lượng sản phẩm của tập đoàn này trên toàn cầu. Hiện nay, ước tính trong số 10 chiếc điện thoại thông minh trên thế giới thì sẽ có một chiếc có xuất xứ từ Việt Nam.

Nghiên cứu gần đây của nhóm chuyên gia thuộc Viện Brookings tại Mỹ nhấn mạnh rằng khả năng xây dựng trên những nền tảng kinh tế vững chắc của Việt Nam là thông qua các chính sách hiệu quả, thực sự làm cho Việt Nam vượt hơn hẳn các nước khác.

Những nhận định trên hoàn toàn đúng với nhận định của các tổ chức kinh tế, tài chính uy tín nhất trên thế giới. Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng, kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục cải thiện. WB dự báo mức tăng GDP năm 2018 của Việt Nam là 6,8%. Ông Ousmane Dione, Giám đốc Quốc gia WB tại Việt Nam cho rằng, tăng trưởng kinh tế đầy ấn tượng trong năm 2017 và nửa đầu năm 2018 đang tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam tiếp tục tiến lên. Thậm chí, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) rất lạc quan, dự báo về tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2018 ở mức 7,1%. Trong khi đó, với các quốc gia Đông Nam Á, ADB lại cho rằng, tăng trưởng chung có thể chỉ đạt 5,2% cho cả năm 2018 và 2019. Hiện nay, các định chế tài chính và các ngân hàng trên thế giới đều có cái nhìn lạc quan về nền kinh tế Việt Nam. Với mức tăng trưởng kinh tế tới 7,08% trong 6 tháng đầu năm 2018, nền kinh tế Việt Nam rất hấp dẫn và các định chế tài chính, ngân hàng quốc tế sẵn sàng cho Chính phủ cũng như các doanh nghiệp của Việt Nam vay vốn.

Ngày 2/11/2018, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được Quốc hội thông qua đã đánh dấu một cái mốc quan trọng trong việc hội nhập. Ở đó, những cam kết thế hệ mới sẽ “thúc” Việt Nam đẩy nhanh hơn quá trình thay đổi chính mình trong việc tìm động lực tăng trưởng mới. CPTPP cũng mở ra một thị trường rộng lớn cho doanh nghiệp Việt Nam, nơi có sân chơi công bằng hơn với các nước lớn. Nhiều chuyên gia tin tưởng rằng CPTPP sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam một cách rõ nét hơn, nhanh hơn hiện tại. Nói cách khác, hiệp định tạo cơ sở Việt Nam hiện thực hóa “khát vọng Việt Nam 2035”, về một Việt Nam thịnh vượng, người dân có thu nhập ở mức trung bình cao của thế giới. Tiềm lực và vị thế của quốc gia được nâng cao, nền kinh tế hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu.

leftcenterrightdel
 

3. Khát vọng về một Việt Nam hùng cường chưa bao giờ hiển hiện rõ thế trong lòng dân tộc. Những ngày này, người dân cả nước nhắc nhiều đến niềm tin mới, sức mạnh mới khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được bầu làm Chủ tịch nước. Tưởng như lịch sử đi những lối không ngờ, nhưng đó là quy luật và rất kỳ thú. Nếu trước kia, Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta là Chủ tịch nước được Đảng ta bầu giữ chức Chủ tịch Đảng, thì bây giờ đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - với cương vị là người đứng đầu của Đảng được Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch nước.  

Có lẽ chưa bao giờ như bây giờ, cũng như chưa bao giờ như năm 1951, khi lòng Dân kết với ý Đảng, ý Đảng hợp lòng Dân. Quốc hội lựa chọn đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đồng thời giữ chức vụ Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là sự kiện tạo cho vị thế của đất nước ở một tầm cao mới, uy tín của Đảng ở một tầm vóc mới, tạo thế nước mới - đó có thể coi là phúc lớn của dân tộc Việt Nam. 

Hai sự kiện của lịch sử qua 67 năm, đã đi những bước tất yếu, với những tính chất lịch sử tương dung, đáp lại sự vận động của đất nước và phù hợp với xu thế chính trị mang tầm thời đại. Có nhiều ý kiến trăn trở: Khi đồng chí Tổng Bí thư được trao thêm trọng trách giữ chức vụ Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đảm nhiệm cùng lúc hai vai trò lớn lao, mà niềm tin của Nhân dân đặt vào Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng ngày càng mạnh mẽ, ông sẽ “bận rộn và khó khăn” hơn rất nhiều?  

Nói khó khăn cũng là đúng và nói thách thức cũng phải. Một núi công việc đang đặt ra trước mắt, để đất nước đi lên, dân tộc vững bền. Vì thế, dù đồng thời giữ chức vụ hay không, thì cả Nhà nước và Đảng của chúng ta, dân tộc chúng ta đều phải đối mặt và giải quyết. Bây giờ, công việc tập trung vào vai một người thì rõ ràng là trách nhiệm nặng nề hơn, đòi hỏi sự tập trung và thống nhất cao hơn. Theo đó, khó khăn cũng đặt ra những vấn đề mới mẻ.  

Thế nước - Lòng dân - Ý Đảng - Vận hội của dân tộc - Xu thế thời đại đang hội tụ, bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ của dân tộc chúng ta! Đó cũng là bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh của đất nước chúng ta, trong thế giới hôm nay!

 

Các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội năm 2019:

- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 6,6-6,8%;

- Tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) khoảng 4%;

- Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 7-8%;

- Tỷ lệ nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu dưới 3%;

- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 33-34% GDP;

- Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều) giảm 1-1,5%, riêng các huyện nghèo giảm 4%;

- Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%;

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60-62%, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ đạt 24-24,5%;

- Số giường bệnh/một vạn dân (không tính giường trạm y tế xã) đạt 27 giường;

- Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 88,1%;

- Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường 89%;

- Tỷ lệ che phủ rừng đạt 41,85%.

 

Khánh An