Hỗ trợ DNNVV vay vốn: Cần chính sách mang tính đột phá

(CLO) Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) được coi là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế khi chiếm đến 95% tổng số DN đồng thời tạo ra khoảng 60% việc làm cho người lao động. Thời gian qua, Chính phủ đã đề ra nhiều các chính sách hỗ trợ, đặc biệt chính sách về vốn đã có nhiều thay đổi tích cực, tuy nhiên để thực sự là một động lực phát triển từ khối DNNVV thì cần thêm những cải cách mang tính đột phá.

Anh Sx Cty Vu Thinh
Không chú trọng vào các tài sản bảo đảm là đất đai như nhà xưởng sản xuất mà phải chú trọng vào những “động sản” để tiến hành thẩm định cho vay mới có thể trở thành nhân tố giúp DNNVV dễ dàng tiếp cận tín dụng trong thời đại mới – Ảnh minh họa

Tại tọa đàm “Khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa” diễn ra mới đây tại Hà Nội, GS. Nguyễn Mại – Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Việt Nam (VAFIE) đã đưa ra  kiến nghị, một trong các giải pháp hỗ trợ tích cực cho DNNVV chính là phải thay đổi tiêu chí về điều kiện và thủ tục vay tín dụng ngân hàng cho các đối tượng này.

Cụ thể,theo ông Mại phải đổi mới quy định về tiền vay, điều kiện vay theo hướng phù hợp với “nhược điểm” của DN về tài sản thế chấp, chú trọng vào “ý tưởng” và “sáng kiến kinh doanh” của DN.

Bởi những yếu điểm có thể dễ dàng nhìn thấy của khối DN này chính là quy mô nhỏ, vốn ít, phải phụ thuộc vào DN lớn, gặp khó khăn trong đầu tư công nghệ mới, đặc biệt là các công nghệ đòi hỏi vốn đầu tư lớn. Nếu ngân hàng cứ dựa vào những yếu tố này của DN thì không bao giờ có thể đạt “đủ” độ tin tưởng để cho DN tiếp cận tín dụng ngân hàng.

Đồng quan điểm trên, GS. Xuan – Thao Nguyen – Chuyên gia về Giao dịch Bảo đảm của IFC/WBG cũng cho rằng, tư duy cho DN vay tiền của ngân hàng phải được thay đổi. Ngân hàng không nên cứ khăng khăng bắt DN nhỏ phải có tài sản thế chấp là bất động sản mà cần xem xét đến những tài sản khác của DN đơn cử như DN “động sản”.

Theo GS. Xuan – Thao Nguyen, “động sản” là một tài sản vô cùng quan trọng của DN. Có rất nhiều các “động sản” khác nhau như: các khoản thu lãi, khoản thanh toán từ hợp đồng bảo hiểm, hàng hóa ở dạng hữu hình, tài sản sở hữu trí tuệ hay nổi bật nhất là trái phiếu, cổ phiếu của DN trên thị trường chứng khoán… “Đây hoàn toàn có thể trở thành tài sản thế chấp vô cùng hữu ích trong quá trình thẩm định hồ sơ cho vay của ngân hàng bởi đây là những tài sản thể hiện khả năng sản xuất kinh doanh, nguồn cung giá trị thặng dư lớn của DN”, GS. Xuan – Thao Nguyen khẳng định thêm.

Nhìn nhận về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Hoài Phương, Kế toán trưởng Công ty CP Thương mại và Dịch vụ Xây lắp Dầu khí cũng cho rằng, khi là DNNVV thì vốn đầu tư đảm bảo chạy lưu động để sinh lợi nhuận nên rất khó có tài sản đảm bảo dài hạn, tồn đọng vốn để thế chấp vay được. Đó là khó khăn lớn nhất của DN khi huy động vốn từ ngân hàng.

“Quá trình chúng tôi phấn đấu đạt được tài chính minh bạch, lòng tin của ngân hàng là một quá trình dài. Cụ thể, chúng tôi đã mất 10 năm để chứng minh cho một ngân hàng về khả năng tài chính cũng như tạo dựng lòng tin về khả năng kinh doanh. Chính vì vậy, tiến hành vay vốn tại các ngân hàng khác sẽ mất nhiều thời gian, công sức nên chúng tôi chỉ tập trung vào sản xuất kinh doanh để tránh mất chi phí khi chứng minh thêm với các ngân hàng khác”, bà Phương chia sẻ thêm. Điều này cho thấy, DNNVV vẫn khá khó khăn trong huy động vốn, vay vốn từ hệ thống ngân hàng thông qua tài sản bảo đảm.

Đó là từ phía ngân hàng, còn phía DN – những người chủ động và là đối tượng cần nhất các khoản vay này để mở rộng kinh doanh cũng được các chuyên gia khẳng định là cần có sự thay đổi.

Đơn cử, khi không muốn và cũng không có khả năng sử dụng bất động sản làm tài sản bảo đảm khi vay vốn, DN cần có đẩy đủ khả năng chứng minh năng lực tài chính, những “động sản” tiềm năng mà mình đang có, hiểu rõ được tài sản nào có thể trở thành nhân tố “hấp dẫn” ngân hàng. DN phải hiểu rõ được mô hình kinh doanh, hoạt động kinh doanh của chính DN mình, ưu điểm và lợi thế trong các sản phẩm mình bán ra thị trường để thuyết phục được ngân hàng cho vay.

Bên cạnh đó, DN cũng phải là người chủ động tìm hiểu và nắm bắt các thông lệ quốc tế tốt nhất dành cho mình. Điển hình như hệ thống pháp luật dành cho các giao dịch bảo đảm bằng động sản nói riêng và giao dịch bảo đảm nói chung.

Nhìn từ hai góc độ, quá trình vay vốn của DNNVV đến từ hai phía: người cho vay là các ngân hàng, các TCTD; người đi vay là DN từ quy mô siêu nhỏ, nhỏ đến vừa. Chính vì vậy, để thúc đẩy hay cải cách quá trình vay vốn cũng phải nhìn từ hai hướng trên.

Thay đổi tư duy của người cho vay là thay đổi tư duy của các ngân hàng về tài sản bảo đảm: khi không chú trọng vào vật chất hữu hình (chủ yếu là bất động sản bao gồm đất đai, kho bãi, xưởng sản xuất… của DN) mà chú trọng vào những tài sản mang lại giá trị thặng dư cho DN là các “động sản”.

Phía những người đi vay là các DN cũng cần nhìn cho mình một hướng tiếp cận tín dụng mới khi đi sâu vào hiệu quả đầu tư kinh doanh, nắm vững các “động sản” để mô tả chính xác khả năng của DN đối với các nhà thẩm định.

Thay đổi mô hình, phương pháp tín dụng theo hướng mới này cũng chính là đồng hành cùng với sự phát triển của tín dụng quốc tế  trong đó cả DN lẫn ngân hàng đều đảm bảo được yêu cầu và nhu cầu của mình để từ đó hướng đến sự phát triển mà đôi bên cùng có lợi.

Trong năm 2015, tỷ lệ DN thua lỗ, phá sản, ngừng hoạt động gia tăng một cách “mạnh mẽ”. Chỉ trong năm 2015, có đến 32% DN siêu nhỏ, 17% DN nhỏ và 16% DN vừa làm ăn thua lỗ trong khi lượng DN lớn “chung cảnh ngộ” này chỉ chiếm 10%. Để tình trạng này không xảy ra, việc nhanh chóng nâng cấp các DNNVV trở thành những DN lớn đang ngày càng trở nên bức thiết và yêu cầu này cần sự hỗ trợ lớn từ phía ngân hàng.

Quỳnh Liên