Cô giao liên bàn giao hai chúng tôi cho người đàn ông rồi đi liền. Người nhận chúng tôi là anh Trần Văn Anh - phụ trách Báo Giải phóng Quảng Đà. Nhà là nhà của ông Sỏi, thôn Châu Lâu, xã Điện Phước, huyện Điện Bàn. Báo Giải phóng Quảng Đà vừa di chuyển từ Phú Thuận, Đại Lộc xuống xin đóng cơ quan. Một ngôi nhà chủ vừa cùng gia đình sơ tán ra vùng tranh chấp ở Vĩnh Điện vì những trận bom pháo dữ dội của những cuộc phản kích ác liệt của quân Mỹ vào Sài Gòn sau chiến dịch xuân Mậu Thân - 1968. Đã biết trước nên từ dưới nhà bếp, thấy cô giao liên bước vào thì anh Trần Văn Anh lên nhận người mà anh đã ‘‘chấm’’, do Ban Tổ chức Đặc khu ủy Quảng Đà giới thiệu. Anh Trần Văn Anh cười bắt tay, mời hai chúng tôi vào nhà trên. Anh chỉ tay về phía cái giường tre, nói: Để đồ đạc, nghỉ chút, tắm rửa rồi chuẩn bị ăn cơm. Không chút khách sáo, đặt lên cái bàn cạnh giường một xấp báo, rồi xuống bếp tiếp tục vai... đầu bếp.

 Mới chân ướt chân ráo về cơ quan Báo Giải phóng, hôm ấy chỉ có 4 người, chưa biết ai là thủ trưởng, ai phóng viên, ai nhân viên. Rồi lần lượt trước và sau bữa cơm thì biết. Khi anh Trần Văn Anh đang trong bếp thì thấy Hồ Hải Học, to béo, trắng trẻo, đang ngồi chễm chệ giữa sân gắp từng lát măng tươi vuông vức bỏ vào cái thẩu có ít mắm cái... Trần Văn Anh thì đen sạm, gầy, dân xã Hòa Lương, huyện Hòa Vang. Hoàng Kim Tùng cũng đen, nhỏ con, một nhà giáo người Đông Hà - Quảng Trị. Và Hữu Mười, trông chững chạc, ít nói, cẩn thận từng lời, viết cũng nắn nót, còn gọi Mười Tùy, dân Điện Thọ, Điện Bàn.

leftcenterrightdel
Hồ Duy Lệ (trái) và Dương Đức Quảng (Ảnh chụp tại Quảng Đà, đầu năm 1972). 
Bữa ăn đầu tiên với anh em Báo Giải phóng Quảng Đà chiều hôm đó có măng tươi xào với thịt hộp, có rau dền luộc chấm mắm cáy, một bát nước rau luộc màu xanh lục làm canh. Đêm đầu tiên về Báo Giải phóng Quảng Đà ngủ chưa trọn giấc thì bị đánh thức. Anh Tùng đập đập chân tôi: Dậy! Dậy. Khi tôi thức dậy thì các anh đang vội vã thu xếp đồ đoàn: muối vào lon, mắm vào lọ, gạo vào ruột nghé, mấy cái soong xâu một xâu. Mỗi người một cái gùi cá nhân phải nhận thêm một trong những thứ của chung, mang thêm được bao nhiêu thì quí bấy nhiêu. Anh Tùng phân cho tôi một ruột nghé gạo và một đùm soong nồi lỉnh kỉnh, lơ mơ là bị dính nhọ, nhưng lẽ nào không nhận, mà thoái thác cho ai, khi ai cũng lưng gùi, tay xách, vai mang. Người trên lưng mang nặng nhất, hai tay cũng không ở không là anh Hoàng Kim Tùng - Bí thư chi bộ.

Độ 3 giờ sáng thì bắt đầu đi chống càn. Mò mẫm trong đêm tối trời, tôi vừa đi vừa chạy lúp xúp, bất kể mương nước, ruộng lầy, gai, mảnh, cố bám theo các anh, thỉnh thoảng giật thót người vì những quả pháo bất ngờ xè... xè... ầm, ùm sau lưng. Hừng sáng hôm sau thì đến một ngôi nhà ở trên lưng đồi, sau đồi là mờ mờ núi thấp. Đó là thôn Hai, xã Xuyên Khương. Ban Tuyên huấn Quảng Đà có một bộ phận đóng ở khu vực này, trong xóm nhà ông Trùm Diễn, nhà bà Trùm Tính... Nhà in báo lúc bấy giờ khoét một cái hang sâu vào sườn núi làm nơi đặt máy in báo. Báo Giải phóng Quảng Đà có căn hầm đào vào núi để tránh bom pháo và cái chòi lợp lá nón cạnh Nhà in để treo võng nghỉ và đọc, viết.

Về Báo Giải phóng Quảng Đà thì tôi được mang danh phóng viên Báo. Lúc đầu chưa được viết tin, viết bài mà chủ yếu đi gùi cõng lương thực, thực phẩm, đào hầm, dựng trại, quơ củi. Mấy tháng sau thì được kiêm giữ cái radio national 2 pin đại để hằng ngày ghi âm tin đọc chậm của Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài phát thanh Giải phóng. Ngày nào cũng phải ngồi ghi tin, nhưng một tháng thì các anh mới chọn một số tin tổng hợp đưa lên báo. Không bị bom pháo, không phải di chuyển cơ quan thì Báo ra mỗi tháng một kỳ với số lượng trên dưới một ngàn tờ. Khi ra báo phục vụ cho một chiến dịch thì in nhiều hơn.

leftcenterrightdel
Nhà báo Hồ Duy Lệ 
Cuối năm 1968, tôi đi công tác Hội An. Nói Hội An, nhưng cơ quan của Thị ủy đóng ở Xuyên Thọ, Duy Xuyên, có lúc ở xã Bình Dương, Thăng Bình. Tôi theo bộ đội C.2 về Cẩm Thanh, xã có 2 thôn giải phóng còn rất ít dân bám trụ với du kích. Ở Cẩm Thanh được mười hôm, tôi sống với bộ đội, nói chuyện với du kích, cán bộ xã ... Ghi mấy chục trang tài liệu trong quyển sổ vậy mà tôi chỉ viết được một mẩu chuyện gửi về cơ quan, hơn một tuần sau tôi nhận được thư anh Trần Văn Anh khen bài viết khá, sẽ đăng cho số báo tới, tôi rất mừng. Tôi nghĩ anh động viên tôi - một phóng viên tập sự. Hồi đó, đi một chuyến công tác ít nhất một tháng, có khi 2 tháng mới về lại cơ quan nếu không bị hy sinh... 

Có lần đi công tác khi cơ quan đóng ở Gò Nổi, lúc về cơ quan ở trên Mặt Rạng – Hòn Tàu hoặc trên dốc ông Thủ ở núi Đại Lộc. Đi và về đều phải bám theo giao liên. Giao liên lệnh đi thì đi, biểu dừng thì Bí thư Tỉnh ủy cũng phải chấp hành. Đến nơi thì phải liên hệ với cán bộ xã để được bố trí chỗ ở, thường ở trong nhà dân, ăn với dân, nếu nơi đó còn dân, không có dân thì ở với du kích để có cơm, mắm và nhất là có hầm bí mật khi có địch càn có chỗ rúc. 

Giới thiệu là phóng viên thì đến đâu cũng được tiếp nhận một cách vui vẻ, không có chuyện từ chối với lý do không có chỗ ở, không có hầm bí mật. Nhiều cán bộ đi công tác xuống địa phương, gặp lúc khó khăn, họ từ chối thì khóc ròng. Nói là phóng viên, nhưng xuống địa phương thì làm việc như một cán bộ Tuyên huấn. Các anh chị ở xã nghe giới thiệu “phóng viên nhà báo” thì rất quý, làm như phóng viên phải là người “văn hay, chữ tốt”, cho nên có họp hành, kể cả họp chi bộ cũng không quên mời anh phóng viên dự, dù phóng viên như tôi bấy giờ mới là đối tượng Đoàn. Cực nhất là mời anh phóng viên phát biểu ý kiến, sợ hơn là mời anh phóng viên nói chuyện thời sự trong nước và quốc tế, mời dự và nói chuyện trong các cuộc mít tinh gặp dân vùng yếu, còn gọi là vùng tranh chấp - vùng ban ngày có địch còn ban đêm thì cán bộ du kích đột nhập vào gặp dân.

Những ngày giặc Mỹ leo thang chiến tranh, điều khó nhất không phải là viết được báo, mà là có đủ sức chịu đựng nổi gian khổ, ác liệt hay không. Liệu có sống sót trước sự tàn phá vô tội vạ, đầy rẫy khủng khiếp của chiến tranh - một cuộc chiến tưởng chừng như không có ngày chấm dứt mà sự sống chỉ có thể tính từng ngày, còn cái chết thì luôn vây quanh, từ bom, pháo, sốt rét, đói triền miên và rất dễ lọt vào tay quân thù. Xin cảm ơn những ngày gian khổ - những kỷ niệm - một thực tiễn quý giá - một nguồn tư liệu sống động mãi còn nóng ấm đọng lại trong ký ức, mỗi khi nhắc đến, nhớ lại là cho tôi cảm xúc để có thể ghi lại đôi điều.❏

Bút ký của nhà báo Hồ Duy Lệ                 

   (Nguyên Tổng biên tập báo Quảng Nam)