Việc khó đã có Chủ tịch tỉnh?

Chiều 9/10/2017, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp chủ trì cuộc họp tiếp công dân, trong đó có ông Nguyễn Minh Cảnh (Ấp 2, xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười) – người đang khiếu nại UBND huyện Tháp Mười thu hồi, đấu giá đất nông nghiệp do ông khai phá, canh tác suốt gần 30 năm qua.

Theo ông Cảnh, từ năm 1989, Hội Cựu chiến binh xã gặp khó khăn về kinh phí hoạt động. Sẵn có đất do nông trường giao lại cho địa phương, hoặc do một số người dân bỏ canh tác, UBND xã Tân Kiều đã cho các ngành trong huyện nhận canh tác để gây quỹ. Còn thửa đất trũng, nhiều hầm hố, gia đình ông Cảnh nhận, bỏ nhiều công sức, tiền bạc khai phá, san lấp, cải tạo đất phèn mặn, được 16.776,2m2 (thửa đất số 1756 tờ bản đồ số 5, ấp Gò Tháp, xã Tân Kiều). Sau đó,  thửa đất từ canh tác được 1 vụ, lên 2 vụ, 3 vụ/năm. Năm 2005, khi chính quyền có chủ trương, gia đình ông Cảnh đã đồng thuận ký hợp đồng thuê, mỗi năm đóng góp hàng chục triệu đồng cho địa phương (27.000.000đ, năm 2013).

Bất ngờ, năm 2012, UBND huyện Tháp Mười thông báo sẽ tổ chức đấu giá cho thuê đất nông nghiệp, trong đó có diện tích 16.776,2m2 ông Cảnh đang canh tác. Ông Cảnh cho rằng việc chính quyền cho đấu giá thửa đất gia đình ông dày công khai phá, giao cho người khác là không thấu tình đạt lý, bởi nguồn gốc đất do 05 hộ dân vỡ hoang từ 1973, họ đồng thuận khi biết người thừa hưởng là ông. Ông đề nghị UBND huyện Tháp Mười xem xét cấp GCNQSDĐ cho ông; hoặc tiếp tục cho ông thuê đất lâu dài, giá thuê phù hợp; hoặc trả công san lấp mặt bằng, cải tạo đất từ 1989 đến nay.

leftcenterrightdel
Ông Nguyễn Minh Cảnh 
Khi gia đình đang kiến nghị, thì bất ngờ hơn, ngày 26/9/2017, UBND huyện Tháp Mười ra quyết định xử phạt hành chính ông Nguyễn Văn Châu (con trai ông Cảnh) 4 triệu đồng vì “chiếm đất” khiến ông vô cùng bức xúc.

Tại buổi tiếp xúc, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp Nguyễn Văn Dương đã nói rằng đây là trường hợp mà “cái tình sâu quá”. Cũng bởi ông Cảnh là cựu chiến binh, tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, chống quân diệt chủng Pol Pot; gia đình có anh trai, em trai là liệt sĩ, có mẹ được truy tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng… Công luận đang chờ đợi UBND huyện Tháp Mười đưa ra một giải pháp vô tư, minh bạch, lý tình trọn vẹn.

Chính quyền Cao Lãnh khiến tòa án “khó xử”?

Cũng chiều 9/10 vừa qua, tại Đồng Tháp, TAND TP. Cao Lãnh đã đưa ra xét xử vụ án tranh chấp đất, mà trước đó chính quyền địa phương chưa giải quyết rốt ráo, chưa phân định rõ mốc giới, khiến tòa án gặp không ít khó khăn, từ năm 2014 tới nay liên tục phải ra thông báo hoãn.

Nguyên đơn trong vụ kiện là vợ chồng bà Trần Thị Hai (50 tuổi, ngụ xã An Bình, huyện Cao Lãnh).

Từ tháng 8/2001, gia đình bà Hai nhận chuyển nhượng khu đất diện tích 805m2 (gồm 200m2 đất thổ cư, 605m2 đất trồng cây lâu năm), thửa số 876, tờ bản đồ số 3, tại phường 3, TP. Cao Lãnh từ em gái – bà Trần Thị Thu Ba. Nguồn gốc khu đất do ông Trần Văn Chơn khai phá, sau đó để lại cho con trai là ông Trần Văn Thêu (GCNQSDĐ được cấp ngày 1/9/1990). Năm 1995, ông Thêu nhượng toàn bộ đất cho em ruột là ông Trần Văn Đá (cha bà Hai). Năm 1999, ông Đá cho con gái là Trần Thị Thu Ba. Bà Thu Ba sau đó nhượng lại toàn bộ 805m2 đất cho chị ruột – bà Trần Thị Hai.

Liên quan tới việc xử lý khiếu nại, tố cáo của công dân tại Đồng Tháp, ngày 29/9/2017, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Dương đã kết luận nội dung người dân tố cáo Phó Chủ tịch UBND TP. Cao Lãnh Đặng Văn Nang lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trục lợi tiền ngân sách là đúng sự thật, đồng thời chuyển cơ quan CSĐT làm rõ. Hiện ông Nang không đồng ý với kết luận trên.

Năm 2012, khi bà Hai muốn san lấp một hầm cá trong vườn thì ông Trần Văn E (63 tuổi, ngụ Phường 3, TP. Cao Lãnh) ngăn cản, nhận là đất của mình. Địa phương hòa giải không thành, ngày 24/10/2014, bà Hai khởi kiện, yêu cầu tòa buộc ông E phải trả lại phần đất diện tích khoảng 335m2 gồm hầm nuôi cá và phần đất phía sau hầm, giáp đất ông E.

Tại tòa, ông E trình bày: Nguồn gốc đất do ông Trần Văn Chơn để lại cho cha ông (Trần Văn Trực) năm 1969, được cấp GCNQSDĐ diện tích 3.621m2 năm 1990. Năm 1993 ông Trực qua đời, ông Trần Văn E thừa kế, sử dụng tới năm 2007 thì Nhà nước thu hồi, chỉ còn lại 460,4m2 (thửa 25, tờ bản đồ số 2). Đến năm 2014, ông E đăng ký tách thửa thì Phòng TNMT TP. Cao Lãnh cho biết ông còn phần đất 111,9m2 (thửa 151, tờ bản đồ số 2) chưa đăng ký, đã hướng dẫn và cấp GCNQSDĐ diện tích 111,9m2 cho ông E vào 3/1/2014. Sau đó, ông E xin nhập hai thửa thành thửa 155, có diện tích 572.3m2, được cấp GCNQSDĐ vào 20/1/2014.

leftcenterrightdel
Xác nhận người khai mở đất 
Về việc phân định ranh giới đất, ngày 13/12/2016, Phó Chủ tịch UBND TP. Cao Lãnh Đặng Văn Nang ký văn bản số 2062/UBND-TN trả lời công văn của TAND TP. Cao Lãnh (29/9/2016), nêu rõ ý kiến: “Thửa đất 876 và thửa 32, tờ bản đồ số 03, phường 3 đã cấp cho hộ bà Trần Thị Hai vào ngày 17/12/2001, là theo hệ thống bản đồ giải thửa (bản đồ 299). Hiện nay, hộ bà Hai chưa thực hiện việc cấp đổi GCNQSDĐ theo hệ thống bản đồ địa chính chính quy. Do đó, đối với yêu cầu xác định nguyên nhân vì sao phần đất bà Trần Thị Hai đo đạc thực tế chênh lệch giảm so với diện tích được cấp GCN tại thửa 876 nêu trên, UBND Thành phố chưa có cơ sở để xác định”.

Nội dung trả lời của UBND TP. Cao Lãnh bị phía bà Hai cho là thiếu trách nhiệm, bởi trước đó họ đã cho phép ông E đăng ký thêm 111,9m2 (biến động tăng từ 460,4m2 lên 572.3m2) trong khi đây là phần đất thuộc diện tích của gia đình bà mà ông E cản trở san lấp (năm 2012), sau đó khởi kiện ra tòa (năm 2014). UBND TP. Cao Lãnh chưa phân định rõ mốc giới, biến động đất, nên việc cấp thêm đất cho ông E là vội vàng, vô hình chung đã buộc các gia đình thân tộc tranh chấp kéo dài; Tòa án cũng gặp nhiều khó khăn trong xét xử từ 2014 tới nay, liên tục phải thông báo hoãn.

Báo NB&CL sẽ tiếp tục thông tin.

Kiên Giang – Hùng Anh