Theo trình bày của ông Nguyễn Trang Liên (ngụ xã Lô%3ḅc Thuâ%3ḅn, huyê%3ḅn Bình Đại - Bến Tre) thì tờ giấy cam kết trả tiền này thực chất là “cam kết mua sự bình yên” với giá 1 triệu đồng ra đời từ việc ông thường xuyên phải chứng kiến người hàng xóm to tiếng “kiếm chuyện” với gia đình mình. Nhận thấy mâu thuẫn không lớn, mặt khác, ở thời điểm cuối năm 1999 do chưa thật nắm rõ ngọn nguồn vụ việc, nên ông Liên “tạm chiều” theo đòi hỏi của hàng xóm là viết cam kết trả 1 triệu đồng tiền đất.

Nhưng sau đó, tìm hiểu kỹ nguồn gốc đất gia đình đang sử dụng từ chủ đất cũ và cha mình, không phát hiện việc sử dụng đất của gia đình mình có ảnh hưởng gì đến quyền sử dụng đất của người hàng xóm - gia đình bà Nguyễn Thị Viên, nên ông Liên không tiếp tục thực hiện cam kết.

Tuy nhiên, căn cứ vào tờ cam kết này, gia đình người hàng xóm đã khởi kiê%3ḅn ông Liên ra tòa để đòi 58,9m2 đất. Tại phiên tòa, nhắc lại tờ cam kết, người hàng xóm vẫn cho rằng nếu ông Liên trả đủ số tiền như tờ cam kết ngày 22/11/1999 là 1 triê%3ḅu đồng thì nay bà đã không phải khởi kiê%3ḅn để đòi lại đất.

leftcenterrightdel
 Ông Liên tỏ ra bức xúc khi bị cáo buộc lấn chiếm đất của người khác.

Thông tin từ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyê%3ḅn Bình Đại cho thấy: thửa đất 710, tờ bản đồ số 2 xã Lô%3ḅc Thuâ%3ḅn, diê%3ḅn tích 234m2, mục đích sử dụng là “đất ở nông thôn” đã được UBND huyê%3ḅn Bình Đại cấp Giấy CNQSDĐ số 2239/QSDĐ theo quyết định số 1419/QĐ-UB ngày 26/5/2004 cho ông Nguyễn Trang Liên. Phần đất có nguồn gốc nhâ%3ḅn tặng cho từ cha là Nguyễn Tấn Minh được UBND xã Lô%3ḅc Thuâ%3ḅn xác nhâ%3ḅn ngày 29/4/2004.

Liên quan đến quá trình cấp Giấy CNQSDĐ cho ông Liên, Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Bình Đại - bà Nguyễn Thị Kiều Trang khẳng định: “Phòng Tài nguyên và Môi trường huyê%3ḅn không nhâ%3ḅn bất kỳ đơn thư khiếu nại hay tranh chấp phần đất trên từ UBND xã Lô%3ḅc Thuâ%3ḅn hoặc từ hô%3ḅ gia đình, cá nhân gửi về nên quy trình cấp Giấy chứng nhâ%3ḅn quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Trang Liên là đúng qui định của pháp luâ%3ḅt về đất đai”.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 14/6/2016, chủ tọa phiên tòa - thẩm phán Võ Thị Loan nhâ%3ḅn định: “Thửa đất 710 mà gia đình ông Liên đang sử dụng là hợp pháp. Với việc ông Liên đã tháo vách, xây bức tường năm 2006 trả lại cho ông Nhàn phần diê%3ḅn tích đất ở các thửa 58-la + thửa 57-1 được bà Viên xác định là ông Liên đã thực hiê%3ḅn cam kết năm 1999 trả lại đất cho gia đình bà Viên là hoàn toàn phù hợp”.

Chủ tọa phiên tòa phân tích thêm, trên thực tế, chính gia đình bà Viên cũng không thể xác định được ranh đất thuô%3ḅc quyền sử dụng của gia đình mình là tới đâu để xác định là lấn bao nhiêu mét. Vì vâ%3ḅy, ông Liên chỉ cần thực hiê%3ḅn thỏa thuâ%3ḅn đã cam kết là trả 1 triệu đồng, còn bà Viên phải có nghĩa vụ tôn trọng và phải thực hiê%3ḅn theo sự thỏa thuâ%3ḅn về ranh giới đất giữa 2 bên. Cho nên, bà Viên yêu cầu gia đình ông Liên và bà Nở phải trả lại diê%3ḅn tích đất theo nội dung đơn khởi kiê%3ḅn là không có căn cứ nên không thể chấp nhâ%3ḅn được. 

Hơn nữa từ khi thỏa thuâ%3ḅn là năm 1999 đến lúc bà Viên khởi kiê%3ḅn là năm 2009 là quá thời hiê%3ḅu khởi kiê%3ḅn để đòi lại tài sản nên không có căn cứ để hô%3ḅi đồng xét xử xem xét tính lãi của số tiền trên.

Sự thật là như vậy, nào ngờ, ngày 19/6/2017, phiên tòa phúc thẩm gần như bác toàn bộ nhận định của tòa cấp sơ thẩm, buô%3ḅc ông Nguyễn Trang Liên phải trả cho bà Nguyễn Thị Viên 58,9m2 đất.

Ông Liên cho rằng chỉ căn cứ vào tờ cam kết thỏa thuâ%3ḅn 1 triệu đồng ký cách đây gần 20 năm để buộc ông giao 58,9m2 là rất không hợp lý.

Uẩn khuất xung quanh tờ cam kết “mua sự bình yên” giá 1 triệu đồng vẫn đang được TAND cấp cao xem xét, giải quyết.

Thanh Hải