Ứng dụng năng lượng nguyên tử trong phát triển kinh tế – xã hội

(NBCL) Năng lượng nguyên tử đóng vai trò rất lớn cho phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, ngoài ứng dụng về năng lượng, tại Việt Nam, việc ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ (ứng dụng phi năng lượng) trong một số lĩnh vực như: nông nghiệp, y tế,… đã mang lại nhiều thành tựu góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

Quả vải tươi lần đầu tiên được chiếu xạ tại Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội trước khi xuất khẩu sang Úc.
Quả vải tươi lần đầu tiên được chiếu xạ tại Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội trước khi xuất khẩu sang Úc.

Nâng tiềm lực KH&CN đất nước

Việt Nam đã có những cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử: Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 01/2006/QĐ-TTg ngày 03/01/2006 với mục tiêu chung là từng bước xây dựng và phát triển ngành công nghệ, công nghệ hạt nhân có đóng góp hiệu quả trực tiếp cho phát triển kinh tế – xã hội và tăng cường tiềm lực Khoa học và Công nghệ (KH&CN) của đất nước.

Để cụ thể hóa các nhiệm của Chiến lược, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển, ứng dụng NLNT vì mục đích hòa bình đến năm 2020 (Quyết định số 957/QĐ-TT ngày 24/06/2010). Triển khai thực hiện Quy hoạch tổng thể, các Bộ, ngành đã xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các Quy hoạch chi tiết phát triển ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ trong các lĩnh vực Y tế, Công nghiệp, Nông nghiệp, Tài nguyên và Môi trường đến năm 2020.

TS. Hoàng Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Năng lượng nguyên tử, Bộ KH&CN cho biết, trong giai đoạn 2011 – 2016, hoạt động nghiên cứu, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả có giá trị khoa học và thực tiễn trong đó có một số lĩnh vực được ghi nhận ở tầm khu vực và trên thế giới, có thể kể đến một số kết quả nổi bật: lĩnh vực y tế, việc ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ được sử dụng chủ yếu ở ba lĩnh vực là y học hạt nhân, xạ trị và điện quang. Với phương thức xã hội hóa, nhiều trung tâm y học hạt nhân, xạ trị, chẩn đoán hình ảnh đã được thành lập với các thiết bị hiện đại, ngang tầm khu vực và trên thế giới như các máy xạ hình SPECT, SPECT/CT, PET/CT, các máy xạ trị cyber knife, gamma knife và các thiết bị chẩn đoán hình ảnh MRI, CT thế hệ mới,…

Theo thống kê, tổng nhu cầu dược chất phóng xạ (DCPX) trong y tế của Việt Nam hiện nay gần 1400Ci/năm, trong đó Viện nghiên cứu hạt nhân (Đà Lạt) cung cấp gần 400Ci/năm, sản xuất trên các máy cyclotron khoảng 250Ci/năm (tổng lượng cung cấp trong nước đạt gần 50% nhu cầu, đáp ứng được mục tiêu đề ra trong Quy hoạch chi tiết).

Trong lĩnh vực nông nghiệp, việc ứng dụng năng lượng nguyên tử đã đạt được những thành tựu đáng kể trong chọn tạo giống đột biến, chiếu xạ nông sản cho kiểm dịch thực vật. Tính đến năm 2015, đã tạo ra và đưa vào sản xuất 61 giống, bao gồm 41 giống lúa, 9 giống đậu tương và một số giống hoa, ngô, táo, lạc,… Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) đánh giá Việt Nam là quốc gia đứng thứ 8 trên thế giới về đột biến tạo giống, được trao giải thưởng “thành tựu xuất sắc”.

Trong công nghiệp, kỹ thuật hạt nhân được ứng dụng trong 4 lĩnh vực chủ yếu là kiểm tra không phá hủy (NDT), hệ điều khiển hạt nhân (NCS), chiếu xạ công nghiệp, kỹ thuật đánh dấu đồng vị phóng xạ (Tracer) và đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Trung tâm Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong công nghiệp (CANTI) đã nghiên cứu, thiết kế và chế tạo thành công thiết bị chụp ảnh cắt lớp thế hệ 3 và thiết bị CT/SPECT công nghiệp có nhiều ứng dụng trong công nghiệp dầu khí.

Thiết bị CT GORBIT và phần mềm dựng ảnh do CANTI nghiên cứu, chế tạo đã được xuất khẩu sang 7 nước theo đặt hàng của IAEA. Phương pháp kiểm tra không phá hủy (NDT) được Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam nghiên cứu ứng dụng để kiểm tra chất lượng nhiều công trình lớn của quốc gia như cầu Mỹ Thuận, nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ, các công trình thủy điện,… Kỹ thuật đánh dấu được triển khai trên các mỏ dầu ở Việt Nam và xuất khẩu dịch vụ sang nước ngoài.

Đối với lĩnh vực tài nguyên và môi trường, năm 2015, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hoàn thành và nộp lưu trữ Bản đồ phông bức xạ tự nhiên Việt Nam tỷ lệ 1:1.000.000. Thực hiện Kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, đã xây dựng Bản đồ phóng xạ tự nhiên tỷ lệ 1:200.000 cho 5 khu đô thị, dân cư lớn và theo kế hoạch sẽ hoàn thành vào năm 2020. Đến nay, 27 trạm quan trắc phóng xạ đã được xây dựng tại các mỏ có chứa phóng xạ trên 16 tỉnh, thành. Ngoài ra, kỹ thuật thủy văn đồng vị được ứng dụng trong nghiên cứu tài nguyên nước, có đóng góp trong quản lý, khai thác tài nguyên nước ngầm tại khu vực Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đồng bằng Sông Cửu Long.

Nhiều lợi ích thiết thực

GS.TSKH. Trần Duy Quý, Viện Nghiên cứu hợp tác Khoa học kỹ thuật Châu Á Thái Bình Dương cho biết, Việt Nam là một đất nước nông nghiệp với hơn 90 triệu dân và diện tích đất nông nghiệp trồng được lúa là 3,8 triệu ha. Nếu tích cực trồng lúa 1 năm 2-3 vụ thì Việt Nam có diện tích khoảng 7,8ha, sản lượng hiện nay là 45,5 triệu tấn, năng suất 5,8 tấn/ ha. So với năm 1990, hiện chỉ có 16,5 triệu tấn và năng suất 3,4 tấn/ha.

Kiểm tra chất lượng quả vải tươi được xử lý chiếu xạ tại Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội trước khi xuất khẩu sang Úc.
Kiểm tra chất lượng quả vải tươi được xử lý chiếu xạ tại Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội trước khi xuất khẩu sang Úc.

Việc lai tạo các giống lúa thuần bằng công nghệ bức xạ sẽ có những tác động tích cực đến sản lượng lúa cũng như khả năng chống chịu sâu bệnh của cây lúa trước biến đổi khí hậu hiện nay. Theo GS.TSKH. Trần Duy Quý, nếu như không có khoa học lai tạo giống lúa và chọn lọc đột biến thì người dân vẫn có thể lựa chọn được những giống lúa cổ truyền từ đời ông cha để lại nhưng năng suất thấp, chống chịu sâu bệnh kém và ít kích ứng. Tuy nhiên, nhờ có các phương pháp mới là lai hữu tính và chọn giống đột biến, trong gần 1 thế kỷ qua, năng suất lúa của Việt Nam tăng nhiều so với trước đây. Ví dụ giống lúa thuần NPT3, NPT4, NPT5 có năng suất đạt 9-10 tấn/ ha, chống chịu sâu bệnh, phẩm chất gạo thơm ngon so với các giống lúa thuần thông thường đã vượt 3-4 tấn/ha, tương

đương với giống lúa lai thế hệ thứ hai. Đặc biệt, các giống siêu lúa NPT3, NPT4, NPT5 được tạo ra bằng phương pháp đột biến do Viện IAP và Viện Di truyền Nông nghiệp tạo ra trong thời gian từ 2009 – 2016 đang được khảo nghiệm sản xuất và phát triển ở một số vùng trọng điểm lúa ở Đồng bằng Sông Hồng có khả năng thay thế một số giống lúa lai nhập nội từ nước ngoài. “Có thể nói, người dân được hưởng lợi nhiều từ phương pháp chọn tạo giống mới”- ông Quý khẳng định.

Đánh giá về ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ được sử dụng y học, PGS. TS Lê Ngọc Hà, Chủ nhiệm khoa Y học hạt nhân, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho hay, y học hạt nhân Việt Nam đã đạt những thành tựu đáng kể trong những năm gần đây. Trước đây, chúng ta chỉ áp dụng được các ứng dụng lâm sàng với kỹ thuật y học hạt nhân thông thường và kinh điển như đo độ tập trung I-131 tại tuyến giáp, xạ hình xương, xạ hình tuyến giáp, xạ hình đánh giá hình thể và chức năng thận, sử dụng I-131 trong điều trị bệnh Basedow và ung thư tuyến giáp biệt hóa sau phẫu thuật, điều trị giảm đau di căn xương bằng P-32…

“Hiện nay, chúng ta đã không ngừng mở rộng và phát triển các ứng dụng khác trong nhiều chuyên ngành, bắt kịp với trình độ các nước trong khu vực và một số nước phát triển trên thế giới như: xạ hình tươi máu, đánh giá khả năng sống còn cơ tim sau nhồi máu cơ tim, xạ hình hạch gác trong ung thư vú, ung thư hắc tố, xạ hình Tc99m gắn hồng cầu chẩn đoán u máu trong gan,… Với những ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ sẽ tạo đà cho những thành công tiếp theo của y học hạt nhân”. PGS. TS Lê Ngọc Hà chia sẻ.

Cũng theo PGS. TS Lê Ngọc Hà, việc thực hiện Chiến lược và kế hoạch ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020 và Quy hoạch phát triển ngành y học hạt nhân theo đúng lộ trình sẽ tạo cơ hội cho Việt Nam có thể hội nhập hoàn toàn với các nước trong khu vực cũng như tiếp cận được một số thành tựu y học hạt nhân tiên tiến của một số nước phát triển trong thời gian tới.

Hoàng Phiêu

Bình luận