Đương nhiên sự nghiệp văn chương của mọi người còn đó: Em ơi đợi anh về   (thơ Simonov) và Bình minh mưa (truyện ngắn Pautovski), Thời gian ủng hộ chúng ta (tùy bút Ehrenbourg) và Chuyện một người chân chính (tiểu thuyết Pautovski)..., những tác phẩm ấy sống lâu bền bất chấp thời gian. Nhưng nay có mấy ai còn nhớ những bài họ viết với tư cách nhà báo đã tác động như thế nào đến những người lính Hồng quân Liên Xô tại các tuyến lửa, những bà mẹ, người vợ, người yêu trong thiếu thốn mọi bề và cái rét mùa đông Nga vẫn ngóng, vẫn tin rồi sẽ có ngày gặp lại người thương nhớ: Đợi anh anh lại về/ Trông chết cười ngạo nghễ...

Nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa Ilya Ehrenbourg (1891-1967) có cuộc đời cầm bút kỳ lạ. Trong thế kỷ 20, ông ba lần làm phóng viên chiến tranh. Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), ông là phóng viên của một tờ báo thành phố Saint-Petersbourg tại mặt trận phía Nam nước Nga. Trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha  những năm 1936-1939, ông tình nguyện sang nước này làm phóng viên mặt trận, ủng hộ những người dân chủ chống chế độ độc tài. Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) bùng nổ, ông làm phóng viên báo Sao đỏ cơ quan của Hồng quân Liên Xô tại tiền tuyến. Nhiều cựu chiến binh Nga nhớ lại, mỗi lần một số báo Sao đỏ vừa ấn hành được chuyển ra mặt trận, các chiến sĩ lại nhao nhao hỏi anh quân bưu: “Có bài của Ehrenbourg không, hở anh?”, và nếu câu trả lời là có, ngay tức khắc tờ báo được một người nhanh tay chộp lấy, tìm và đọc to bài báo ký Ilya Ehrenbourg cho cả đơn vị cùng nghe.

Constantin Simonov (1915-1979) xuất thân con trai một bà quận chúa. Lớn lên làm thợ, về sau mới có dịp học Trường viết văn Gorki rồi học tiếp cao học. Chiến tranh thế giới thứ hai (Liên Xô gọi là Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại), Simonov làm phóng viên báo Sao đỏ, có mặt tại các tuyến lửa ngay từ đầu. Ông bám sát các đơn vị Hồng quân từ tháng 7 năm 1941 (tức chỉ một tháng sau ngày phát xít Đức ào ạt tiến công và vây hãm thủ đô Moskva); ông có mặt bên cạnh các chiến sĩ bộ binh Nga đánh giáp lá cà với quân Đức bám giữ bán đảo Crưm; ông theo các đội viên trinh sát Nga luồn vào hậu phương Đức lấy tài liệu viết phóng sự; ông sát cánh những người lính, người dân Nga cùng thề bảo vệ đến cùng thành phố Stalingrad (nay là Volgagrad) bị phát xít Đức vây hãm và rốt cuộc người Nga đã thắng, bắt sống thống chế Đức Von Paulus. Nhà thơ Nicolai Tikhonov, cũng là một phóng viên quân đội, nhớ lại phong cách tác nghiệp của bạn: “Simonov có thể viết ở bất kỳ đâu và lúc nào: dọc đường hành quân, trên xe chở lính, trong công sự giữa hai trận đánh, tại một trạm nghỉ đêm nào đó, hay dưới viết nhờ ánh sáng những thân cây đang cháy vì bom đạn”.

leftcenterrightdel
Constantin Simonov , Boris Polevoi, Ilya Ehrenbourg ,Constantin Pautovski 
Trước chiến tranh, Simonov đã làm thơ, viết kịch nhưng thực sự nổi bật như một ngôi sao từ năm 1942, chính xác là từ ngày 14/1/1942, khi báo Pravda cho đăng lên trang nhất bài thơ “Đợi anh về”. Ngay tức khắc bài thơ trên báo được in lại hàng chục, hàng trăm lần tại các tờ báo phát hành tại mặt trận, ở hậu phương, có khi dưới dạng tờ rời dạng truyền đơn cho dễ lưu hành trong các đơn vị ở các tuyến đầu. Năm 1948, nhà thơ Tố Hữu đã chuyển bài “Đợi anh về” sang tiếng Việt, đăng tạp chí Văn nghệ ấn hành tại Việt Bắc, và ngay lập tức bài thơ lan truyền rộng rãi trong cả nước ta:

Đợi anh anh lại về

Trông chết cười ngạo nghễ

Ai ngày xưa rơi lệ

Hẳn cho sự tình cờ…

Vì sao anh chẳng chết

Chẳng bao giờ ai biết

Có gì đâu em ơi

Chỉ vì không ai người

Biết như em chờ đợi.

Constantin Pautovski (1892-1968) cùng thế hệ với Ilya Ehrenbourg. Tác phẩm của ông sớm đến với độc giả Việt Nam qua các tuỳ bút, truyện ngắn đầy chất thơ Tuyết, Bông hồng vàng, Khoảnh khắc tại Paris... Tuy nhiên ít người biết Pautovski làm báo rất sớm, từ thời nội chiến ở nước Nga trước ngày Cách mạng Tháng Mười 1917 thành công. Những năm 1930, ông nổi tiếng với những bài phóng sự về công nghiệp hóa tại các nước vùng Trung Á. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, ông lại ra mặt trận làm phóng viên chiến trường.

Nhà văn Boris Polevoi (1908-1981) làm báo từ thời còn trẻ. Mới mười chín tuổi đã cho xuất bản tập phóng sự điều tra vạch trần sự mờ ám trên những con tàu sông chuyên buôn lậu đường trường. Chiến tranh, ông làm phóng viên mặt trận của báo Pravda. Tên tuổi ông quen thuộc với độc giả Việt Nam qua các tác phẩm viết về con người trong chiến tranh: Những con người chân chính (1946), Những người Xô Viết chúng ta (1948). Hòa bình lập lại, ông tiếp tục làm báo đến cuối đời trong khi vẫn đảm đương nhiều trọng trách khác tại Viện Duma quốc gia  và Hội Nhà văn Liên Xô.

Phóng viên chiến tranh Yuri Jukov (1908-1991) lại hành nghề theo hướng khác. Từ đầu Chiến tranh Vệ quốc của Liên Xô , ông làm Trưởng ban Phóng viên mặt trận của báo Sự thật Thanh niên. Simonov viết: “Trông bề ngoài Yuri có dáng dấp một nhà dân sự nhưng ông lại là người “quân sự” nhất trong cánh phóng viên mặt trận chúng tôi. Tôi không nói về lòng dũng cảm - điều này là đương nhiên đối với tất cả mọi người - mà ở phong cách nghiêm túc, chính xác, rành mạch, rất nhà binh của Yuri”.

Sau chiến tranh, Yuri Jukov tiếp tục nghề báo và trở thành một cây chính luận chính của báo Pravda. Tên ông không xuất hiện trên mặt báo, thay vào đó là bút danh “Người bình luận” luận bàn thời cuộc, nói lên quan điểm của Đảng Cộng sản và Chính phủ Liên Xô trước những vấn đề trọng đại. Một công việc không phải nhà báo cũng có thể đảm đương.

**

“Thời Chiến tranh Vệ quốc của Liên Xô, có bao nhiêu người làm phóng viên mặt trận?” Có lần tôi đặt câu hỏi cắc cớ với các nhà báo nước bạn. Ai cũng lắc đầu. Làm sao biết cụ thể! Hàng trăm, hàng ngàn, nhiều lắm...

Đối với thế hệ những người làm báo Việt Nam thời chống Pháp, chống Mỹ, các nhà văn, nhà báo Liên Xô không chỉ là những cây bút được đọc nhiều, những tấm gương đáng khâm phục mà còn là những bậc thầy nghề nghiệp. Nhà báo Thép Mới sinh thời say mê tùy bút chiến tranh của Ilya Ehrenbourg. Ông dịch và xuất bản tại Hà Nội tập ký Ilya Ehrenbourg "Thời gian ủng hộ chúng ta" ngay sau ngày hòa bình lập lại (NXB Văn nghệ, 1954). Thép Mới luôn cố gắng tạo cho mình phong cách riêng, nhưng “phong cách Thép Mới” theo tôi rõ ràng mang dấu ấn Ehrenbourg. Mấy bài bút ký chiến tranh đầu tay của Thép mới in trên tuần báo Sự thật xuất bản tại Việt Bắc cuối những năm 1940 và được nhiều người thích, rõ ràng thấp thoáng dáng tùy bút Ehrenbourg. 

Nhà báo quân đội Trần Cư, chỉ mấy ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, đã cho in lên tờ Quân đội nhân dân xuất bản tại chiến hào bài ký, đầu đề: Ở Mường Thanh quân địch ra hàng như nước chảy. Ông viết (lược): “Đã năm giờ chiều. Trời rất đẹp. Xanh biếc cao lồng lộng. Mây bông trắng phau, lớp lớp nối nhau về chân trời… Nắng chiều chiếu rực rỡ những lá cờ chiến thắng của quân ta bay trong gió. Khu Mường Thanh còn ngùn ngụt lửa. Quân địch kéo cờ trắng kéo ra hàng đông như kiến, theo lệnh ta chỉ đường qua hệ thống loa phóng, đi kéo dài ngót chục cây số, trườn theo các hào giao thông của ta, leo lên các con đồi phía Bắc rồi khuất dần sau những tuyến bông lau… Những lá cờ trắng địch đầu hàng hòa trong màu trắng lau rừng Điện Biên dưới bầu trời lửng lờ mây trắng chiều hè”…  Kỷ niệm 60 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, nhiều nhà báo cao niên có dịp đọc lại bài ký của Trần Cư, nghĩ ngay tới bút pháp Paustovsky.

Bản thân chúng tôi khi mới chập chững vào nghề, một hôm tình cờ đọc cuốn sách mới ra của Constantin Simonov: Bút ký chiến tranh, bản dịch tiếng Pháp tại mặt trận Bình Trị Thiên. Say mê, thích thú, vừa trở ra vùng tự do tôi chọn bài dài nhất, nhan đề Mùa hè thứ ba, lúi húi dịch ra tiếng Việt nhằm học cách bậc thầy viết bút ký chiến tranh. Mấy năm sau, bắt gặp bài phóng sự dài của nhà văn Pautovski in hai kỳ trên nguyệt san Litérature Soviétique, đầu đề Từ sông Volga đến sông Đông. Thì ra nhà văn lớn sau chiến tranh, lúc này tuổi đã cao, vẫn vấn vương nghiệp báo. Ông trở lại địa bàn tác nghiệp quen thuộc của mình thời trai trẻ là vùng Trung Á, làm một thiên phóng sự dài, chủ đề khô khan như… mùa hạn tại sa mạc Kara Kưm. Nhà văn sống chan hòa với công nhân và dân công làm thủy lợi đang đào dòng kênh lớn xuyên sa mạc nối liền hai dòng sông nổi tiếng của nước Nga, sông Volga và sông Đông, làm tuyến giao thông đường thủy, đồng thời biến một miền cát khô cằn, nóng cháy ngày hè và mịt mù gió tuyết đêm đông thành vùng đất chuyên canh trồng bông dệt vải. Càng đọc càng thú vị. Tôi lại tập dịch ra tiếng Việt, học cung cách nhà văn trữ tình viết phóng sự công trường.❏

Phan Quang