Đơn gửi Báo Nhà báo & Công luận, bà Vương Bội Trang (SN 1970) trú tại 59/4 Ấp Thanh Hóa, xã Hố Nai, huyện Trảng Bom (Đồng Nai) cho biết: Năm 1974, gia đình bà có mua 1 lô đất diện tích 03ha của bà Hà Thị Tình tại xã Phước Tân, huyện Long Thành (nay thuộc TP. Biên Hòa) do mẹ bà là Nguyễn Thị Thanh đứng tên. Do bận công tác xã hội nên gia đình bà đã thuê ông Nguyễn Công Thành trông coi lô đất và trả công theo tháng. Đến năm 1982, ông Thành tự ý chuyển nhượng diện tích đất này bằng miệng cho ông Nguyễn Hảnh. Năm 1984, sau khi phát hiện sự việc, gia đình bà Thanh đã liên tục gửi đơn khiếu nại ra UBND xã Phước Tân nhằm đòi lại đất, đồng thời yêu cầu ông Thành đến gặp ông Hảnh để xin chuộc lại đất nhưng không thành.

Không những không giải quyết đơn của bà Thanh, chính quyền xã Phước Tân “còn hợp pháp hóa hồ sơ do ông Nguyễn Tuấn là con trai ông Hảnh khai gian dối về nguồn gốc đất và tên cha là Nguyễn Quan khai phá năm 1979 để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ)” – nội dung đơn nêu.

Sau khi hợp thức hóa mảnh đất, ông Tuấn đã chuyển nhượng diện tích trên cho bà Mai Thị Thanh. Năm 2001, bà Mai Thị  Thanh lại bán cho ông Lâm Thanh Tùng (là người hiện đang quản lý, sử dụng đất).

Bức xúc trước việc tài sản của gia đình bỗng dưng “không cánh mà bay”, bà Nguyễn Thị Thanh khởi kiện ông Tùng ra Tòa, yêu cầu trả lại đất. TAND TP. Biên Hòa đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thanh, công nhận diện tích 12.597m2 thuộc thửa 30 tờ bản đồ 15 xã Phước Tân, TP. Biên Hòa thuộc quyền sử dụng của bà Thanh và buộc ông Lâm Thanh Tùng giao trả diện tích trên; đồng thời, hủy một phần GCN QSDĐ số V811152 do UBND huyện Long Thành cấp ngày 29/10/2002 cho ông Tùng...

leftcenterrightdel
 
Tại bản án Phúc thẩm, TAND tỉnh Đồng Nai tiếp tục khẳng định, công nhận diện tích đất trên thuộc quyền sử dụng của các đồng thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị Thanh; hủy một phần GCN QSDĐ của ông Lâm Thanh Tùng và buộc bà Nguyễn Thị Thanh thanh toán cho ông Tùng 1,3 tỷ đồng tiền trông coi và tài sản trên đất. Việc mua bán chuyển nhượng và thiệt hại phát sinh giữa ông Tùng, bà Mai Thị Thanh, ông Nguyễn Tuấn, Nguyễn Đức, Nguyễn Hùng, Nguyễn Dũng và Nguyễn Công Thành sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

Sự việc tưởng chừng đã ngã ngũ. Chi cục THA Biên Hòa thông báo tiến hành cưỡng chế để bàn giao đất cho gia đình bà Thanh (19/09/2016) nhưng trong cùng ngày, cơ quan này nhận được văn bản của TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh yêu cầu tạm hoãn thi hành án 90 ngày. Hết thời gian trên, Chi cục THA Biên Hòa tiếp tục ra thông báo cưỡng chế, thời gian ngày 06/01/2017, thì ngày 05/01/2017 lại nhận được văn bản của VKSND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh yêu cầu hoãn thi hành án 03 tháng.

Tiếp đó, ngày 20/3/2017, TAND tối cao ra văn bản 12/2017/KN-DS Kháng nghị Giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm số 133/2016/DS-PT ngày 10/5/2016 của TAND tỉnh Đồng Nai, đề nghị Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh xét xử Giám đốc thẩm hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án sơ thẩm số 80/2015/DS-ST ngày 2/7/2015 của TAND TP. Biên Hòa; giao hồ sơ vụ án cho TAND TP. Biên Hòa xét xử sơ thẩm lại và tạm đình chỉ thi hành Bản án Phúc thẩm trên.

Qua đó, ngày 25/7/2017, Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh đã ra Quyết định Giám đốc thẩm số 144/2017/DS-GĐT chấp nhận Kháng nghị của Chánh án TAND tối cao và yêu cầu xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, theo Luật sư Phan Trọng Tuệ - người được bà Vương Bội Trang ủy quyền: Quyết định của TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh chưa đánh giá đúng, khách quan toàn diện các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể, ông Nguyễn Tuấn đã khai gian dối về nguồn gốc đất do bố khai phá năm 1979, cho ông năm 1992 và khai cha mình là ông Nguyễn Quan, nhằm qua mặt cơ quan chức năng để được cấp quyền sử dụng đất. Tại thời điểm ông Tuấn xin cấp sổ đỏ thì đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất (mà bà Nguyễn Thị Thanh là một bên tranh chấp) nên không đủ điều kiện để được cấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Khi ông Tuấn chuyển nhượng cho bà Mai Thị Thanh, đất cũng đang tranh chấp. Từ năm 1984, bà Nguyễn Thị Thanh đã gửi đơn lên UBND xã Phước Tân nhưng chính quyền xã vẫn xác nhận vào hợp đồng chuyển nhượng của ông Tuấn cho bà Mai Thị Thanh là trái quy định.

Hội đồng thẩm phán cho rằng trong biên bản xác minh ngày 14/10/2014, trong sổ đăng kí ruộng đất xã Phước Tân năm 1993, bà Nguyễn Thị Thanh chỉ đăng kí với thửa số 535, 671 chứ không đăng kí thửa 670 (tức thửa đất đang tranh chấp). Bà Thanh không trực tiếp canh tác mà để lại cho ông Thành, sau đó ông Thành bán cho ông Hảnh. Việc bà Nguyễn Thị Thanh khiếu nại năm 1992, ông Lê Văn Nữa cán bộ nông nghiệp xã Phước Tân năm 1994, ông Nguyễn Văn Hải - nguyên Chủ tịch UBND xã Phước Tân năm 1994 cũng xác nhận thời điểm 1992–1994 có giải quyết đơn của bà Thanh nhưng hồ sơ giải quyết không có lưu trữ...

Về vấn đề nêu trên, Luật sư Phan Trọng Tuệ nhận xét: Đây là ý kiến chủ quan của TAND cấp cao TP. Hồ Chí Minh khi chỉ dựa vào lời khai của 2 cán bộ đã nghỉ hưu mà chưa đọc kỹ bản án, không căn cứ những chứng cứ, bút lục có trong hồ sơ vụ án đã được 2 cấp tòa xét xử.

Báo Nhà báo & Công luận sẽ tiếp tục thông tin vụ việc này.

Đắc Nguyên