Sau khi Cty CPKS Chu Lai sáp nhập và lấy pháp nhân Cty Đất Quảng Chu Lai hoạt động từ tháng 8/2009, ông Nguyễn Thượng Đắt được cử làm Chủ tịch HĐQT sở hữu 40,75% CP; bà Nguyễn Thị Hòa - Tổng Giám đốc, thành viên HĐQT sở hữu 40,75% CP; ông Nguyễn Tiến Bắc - thành viên HĐQT sở hữu 10% CP; bà Nguyễn Thị Hồng Tuyết - thành viên HĐQT sở hữu 5% CP; ông Bùi Tiến Dũng - Phó TGĐ sở hữu 2% CP.

Ngoài Cty Đất Quảng Chu Lai, Cty CPKS Chu Lai còn các Cty con khác như: Cty Thăng Hoa có vốn điều lệ 20 tỷ đồng, trong đó 95% vốn góp của Cty Chu Lai tương đương 19 tỷ đồng; Cty Trùng Dương vốn điều lệ 6,7 tỷ đồng và Cty Đất Quảng Ninh Thuận vốn điều lệ 100 tỷ đồng, trong đó Cty CPKS Chu Lai góp 79%, tương đương 79 tỷ đồng…

Tại buổi họp HĐQT Cty CPKS Chu Lai ngày 4/4/2016, TGĐ Nguyễn Thị Hòa đã đưa ra kế hoạch, chiến lược phát triển kinh doanh, trong đó có thay đổi đại diện vốn tại các Cty con, ủy quyền cho bà Hòa được tìm đối tác, ký kết hồ sơ pháp lý liên quan đến việc chuyển nhượng vốn góp, tài sản của các Cty con... Tuy nhiên, cho rằng thẩm quyền quyết định các vấn đề này thuộc Đại hội cổ đông nên ông Đắt không đồng ý thông qua.

Quyết tâm thực hiện kế hoạch, bà Hòa và ông Dũng triệu tập cuộc họp HĐQT bất thường ngày 9/5/2016 nhưng bất thành do chỉ có 3/5 thành viên có quyền biểu quyết tham dự. Đến ngày 16/5/2016, dù chỉ có 3/5 thành viên tham dự, các nội dung do bà Hòa, ông Dũng đề nghị vẫn được đưa ra, trong đó có việc bãi chức danh Chủ tịch HĐQT của ông Đắt, bầu ông Dũng lên thay...

Không đồng ý với kết quả cuộc họp này, hai thành viên trong HĐQT là ông Đắt và bà Hồng Tuyết đã làm đơn khởi kiện ra TAND Quảng Nam.

Sau nhiều lần hoãn, ngày 13/9/2017, TAND tỉnh Quảng Nam chính thức đưa vụ kiện ra xét xử và chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đắt, buộc Cty KS Chu Lai tiến hành đại hội cổ đông để chia cổ tức cho cổ đông từ năm 2009 đến năm 2015; buộc Cty tiến hành kiểm toán báo cáo tài chính các năm 2009, 2012, 2014 và 2015.

Tuy nhiên, TAND tỉnh Quảng Nam lại không chấp nhận nhiều yêu cầu khác của ông Đắt như:

Hủy biên bản cuộc họp số 03 và Nghị quyết HĐQT số 01 ngày 16/5/2016 của Cty Đất Quảng Chu Lai, HĐ chuyển nhượng giữa Cty CPKS Chu Lai và bà Phạm Thị Hinh - Chủ tịch HĐQT Cty KS Bình Thuận. Yêu cầu bà Hòa trả cho Cty Đất Quảng Chu Lai hơn 467 tỷ đồng mà bà Hòa tự ý rút khỏi Cty từ năm 2009 đến tháng 5/2016. Yêu cầu cấp lại số cổ phần cho ông Đắt do bị thất lạc...

leftcenterrightdel
 
Ngoài ra, tòa còn tách yêu cầu bà Hòa giải chấp dây chuyền sản xuất, máy móc của Cty CPKS Chu Lai đang bảo lãnh cho Cty Đất Quảng Sài Gòn vay theo HĐ thế chấp 1900-LCP ngày 4/1/2013 ra khỏi vụ án, do liên quan đến quyền lợi ngân hàng và những người có liên quan.

 Kháng nghị của VKS tỉnh Quảng Nam nêu rõ  “Xét thấy Hội đồng xét xử đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình thụ lý giải quyết vụ kiện, Viện KSND tỉnh Quảng Nam đã ra quyết định kháng nghị toàn bộ bản án 07/2017/KDTM-ST ngày 13/9/2017 của TAND tỉnh Quảng Nam; đồng thời, đề nghị TAND Cấp cao tại Đà Nẵng hủy án, trả hồ sơ cho tòa này giải quyết lại theo quy định của pháp luật.”

 Và hàng loạt lý do đề nghị hủy án, trả hồ sơ giải quyết lại đã được đưa ra trong Quyết định kháng nghị của VKSND tỉnh Quảng Nam:

TAND tỉnh Quảng Nam khi thụ lý yêu cầu của nguyên đơn buộc bà Nguyễn Thị Hòa - TGĐ Cty CPKS Chu Lai giải chấp toàn bộ tài sản là dây chuyền máy móc thiết bị của Cty CPKS Chu Lai đang thế chấp để bảo lãnh cho Công ty TNHH Đất Quảng vay ngày 14/1/2013 tại Ngân hàng NN&PTNT - Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn với số tiền 20 tỷ đồng, dư nợ hiện là 26 tỷ đồng... nhưng tòa không đưa ngân hàng và Công ty TNHH Đất Quảng vào tham gia với tư cách bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là không đúng quy định tại Khoản 4, Điều 68 và Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự (BL:1734 đến 1740).

Nguyên đơn đề nghị TAND tỉnh Quảng Nam tiến hành thu thập chứng cứ, tài liệu do không thể tự thu thập được đã không được Tòa thực hiện nhưng không có lý do là chưa bảo đảm quyền của đương sự theo quy định tại điểm e, khoản 1 Điều 97 Bộ luật TTDS.

Nghị quyết số 03/2014/NQHĐQT - ĐQCL ngày 24/5/2014 của Cty CPKS Chu Lai đã thông qua nhiệm kỳ HĐQT là 5 năm. Thế nhưng trên cương vị Chủ tịch HĐQT, ông Đắt không có đơn xin từ nhiệm, cũng như bị bãi nhiệm do không hoàn thành nhiệm vụ. Hơn nữa, việc bầu lại Chủ tịch HĐQT nhưng không thông báo cho các thành viên trước khi họp HĐQT là không đúng quy định tại Khoản 7, Điều 31 Điều lệ Công ty và Khoản 6, Điều 153 Luật Doanh nghiệp... Do đó, việc miễn nhiệm chức danh Chủ tịch HĐQT đối với ông  Đắt là không đúng quy định của pháp luật (BL: 254). Theo đó, yêu cầu hủy các Quyết định, nghị quyết, biên bản do ông Bùi Tiến Dũng ký với tư cách là Chủ tịch HĐQT Cty CPKS Chu Lai của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận (BL: 220 đến 224; 234 đến 237).

Trên cơ sở cuộc họp Đại hội đồng cổ đông ngày 24/5/2014, HĐQT Công ty CPKS Chu Lai đã ban hành Nghị quyết 01/2014/NQHĐQT - ĐQCL giao cho ông Đắt và bà Hòa thay mặt công ty tìm đối tác chuyển nhượng việc thăm dò, khai thác và kinh doanh khoáng sản titan - zircon tại khu vực xã Phước Hải và xã An Hải, huyện Ninh Phước, Ninh Thuận của Công ty khoáng sản Đất Quảng Ninh Thuận (thuộc Công ty CPKS Chu Lai). Thế nhưng ngày 19/5/2016, không thông qua HĐQT, bà Nguyễn Thị Hòa đã tự ký hợp đồng chuyển nhượng trái quy định 7.900.000 cổ phần (tương đương 79%) của Công ty CPKS Chu Lai với tổng giá trị chuyển nhượng 55,3 tỷ đồng cho bà Phạm Thị Hinh - Chủ tịch HĐQT Công ty CPKS Bình Thuận.

Theo thông báo số 01/2014 ngày 30/5/2014 của Cty CPKS Chu Lai về kênh thông tin liên lạc trong đơn vị, các nội dung trao đổi thể hiện trong email có tính pháp lý như văn bản in trên giấy! Như vậy, căn cứ từ Điều 10 đến Điều 20 của Luật giao dịch điện tử thì những dữ liệu điện tử mà nguyên đơn cung cấp được xem là có giá trị pháp lý của vụ án.

Điển hình, từ sổ nhật ký chung của công ty, ông Đắt đã tổng hợp số tiền là  467.130.762.161 đồng, cùng với nội dung trao đổi của ông Bùi Tiến Dũng qua email ngày 24/4/2013, đã thông báo lợi nhuận công ty đạt được từ năm 2009 đến năm 2012 là 199.738.132.390 đồng. Dự kiến chia lợi nhuận cho các cổ đông nhưng sau đó không thực hiện được do bà Hòa với tư cách là TGĐ đã tự rút tiền ra sử dụng vào mục đích cá nhân. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu bà Hòa phải hoàn trả lại số tiền này cho Công ty CPKS Chu Lai là có cơ sở.

Đáng lưu ý là trong đó có văn bản ghi các khoản lãi từ năm 2006 - 2012 là 200 tỷ đồng chứ không phải 2 tỷ đồng  ( BL 248 của Tòa ghi 2 tỷ đồng), ông Đắt có yêu cầu giám định văn bản này và trong thực tế, nếu lãi 2 tỷ thì lấy đâu để đầu tư liên kết 60 tỷ.

Và ngay tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu giám định để xác minh tính xác thực của những dữ liệu điện tử đã cung cấp và một yêu cầu chính đáng khác là được kiểm toán các công ty con của Công ty CPKS Chu Lai nhằm xác định lại giá trị thực của số vốn góp để xác định thẩm quyền quyết định việc chuyển nhượng là thuộc Đại hội đồng cổ đông hay HĐQT công ty nhưng không được tòa chấp nhận(?) ❏

       Thanh Hải