Học phí Đại học: Vẫn là câu chuyện hài hòa!

Với các tân sinh viên 2022, thực tế này còn ám ảnh hơn nữa khi nhiều trường ĐH liên tục công bố những con số học phí tăng chóng mặt. Trên mặt báo, những câu chuyện đại loại “thí sinh “quay xe” đổi nguyện vọng vì học phí tăng” hay “đắn đo xếp nguyện vọng đại học vì học phí” đã không còn là chuyện hiếm.

1. So với năm học 2021 - 2022 thì mức học phí ĐH năm học 2022 - 2023 được xem đã tăng vọt (trừ khối ngành II, Nghệ thuật). Đặc biệt, khối ngành VI.2 (Y dược), tăng 71,3% (hiện đang ở mức trần 1,43 triệu đồng/tháng tăng lên thành 2,45 triệu đồng/tháng). Các khối ngành còn lại (trừ khối ngành II) hầu hết đều tăng hơn 20% đến gần 30%, riêng khối ngành IV (Khoa học sự sống, Khoa học tự nhiên) mức tăng vừa phải hơn, 15,3%.

Cụ thể, Theo Nghị định 81/2021, từ năm học 2022-2023, học phí các trường ĐH công lập chưa tự chủ thấp nhất là từ 1,2-2,45 triệu đồng/tháng, so với năm học trước đó là 980.000 đồng - 1,43 triệu đồng/tháng. Khối ngành có mức học phí cao nhất là y dược, với 24,5 triệu đồng/năm.

Đối với trường ĐH công lập đã tự đảm bảo chi thường xuyên, mức thu này được xác định tối đa bằng 2 lần mức trần trường chưa tự chủ tương ứng với khối ngành và năm học. Khi đó, năm học tới các trường này được thu từ 24-49 triệu đồng/năm. Còn trường công lập tự đảm bảo cả chi thường xuyên và chi đầu tư thì được thu tối đa 2,5 lần mức trần trường chưa tự chủ, tương ứng với 30 triệu cho đến hơn 61 triệu đồng/năm học.

hoc phi dai hoc van la cau chuyen hai hoa hinh 1

Trường ĐH Luật TP.HCM dự kiến tăng mạnh học phí trong năm học 2022-2023. Đặc biệt, chương trình chất lượng cao giảng dạy bằng tiếng Anh học phí lên tới 165 triệu đồng/năm. Ảnh: Hà Ánh.

Ngoài ra, những chương trình đạt kiểm định chất lượng đào tạo tại các trường công lập, trường ĐH được tự xác định mức thu trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật do trường ban hành, thực hiện công khai giải trình với người học và xã hội. Thế nên mới có chuyện thực tế có nhiều trường ĐH công lập thu học phí cao hơn khung trần như trên.

Chẳng hạn, Trường ĐH Y dược TP.HCM công bố học phí dự kiến năm học 2022-2023, trong đó ngành cao nhất ở mức 77 triệu đồng/năm là răng – hàm - mặt. Kế đến, học phí ngành y khoa dự kiến là 74,8 triệu đồng/năm... Thậm chí như xôn xao trên báo chí thời gian qua là chuyện học phí ở trường ĐH Luật TP.HCM.

Cụ thể, năm học 2022-2023 học phí các ngành chương trình đại trà của trường này dự kiến từ trên 31-39 triệu đồng/sinh viên, chương trình chất lượng cao mức thu từ 62,5 đến trên 74 triệu đồng/sinh viên còn chương trình chất lượng cao giảng dạy bằng tiếng Anh, học phí toàn khóa dự kiến 765,9 triệu đồng/sinh viên, 165 triệu đồng/năm cho sinh viên năm đầu tiên.

Với mức tăng học phí khá phi mã ấy, dễ hiểu khi nhiều gia đình đã thực sự choáng váng có con nhập Đại học năm học này. Chia sẻ với Báo Thanh Niên, một phụ huynh ở Quy Nhơn đang có 2 con học 2 trường ĐH tại TP.HCM  cho biết, với mức học phí và sinh hoạt phí như hiện tại, nếu tính trung bình, vợ chồng chị phải có ít nhất 16 triệu đồng/tháng để lo cho 2 con. Đứa lớn học năm cuối ĐH Tôn Đức Thắng với học phí khoảng 40 triệu đồng/năm. Đứa nhỏ học năm 2, ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM, Khoa Công nghệ thông tin có học phí 32 triệu đồng/năm. Tiền ăn, ở hằng tháng của mỗi đứa con khoảng 3 - 3,5 triệu đồng. Đó thực sự là nỗi ám ảnh không dễ gì giải tỏa, nhất là đối với các gia đình có  điều kiện kinh tế eo hẹp hơn.

2. Chia sẻ về mức học phí 165 triệu đồng/năm cho chương trình chất lượng cao giảng dạy bằng tiếng Anh gây xôn xao thời gian qua, PGS.TS Trần Hoàng Hải - quyền Hiệu trưởng Trường ĐH Luật TP.HCM cho biết: “Chương trình chất lượng cao ngành luật giảng dạy bằng tiếng Anh hiện nay của trường chỉ có một lớp với 21 sinh viên. Với học phí hiện tại, nguồn thu từ lớp học này khoảng 3 tỷ đồng”.

Theo ông, nguồn thu trên từ học phí không đủ trang trải cho các hoạt động của lớp học đặc biệt này như thuê các giáo sư nước ngoài, mua các phần mềm pháp luật quốc tế, tổ chức cho sinh viên kiến tập ở nước ngoài…

hoc phi dai hoc van la cau chuyen hai hoa hinh 2

Giờ thực hành của sinh viên một trường đại học được tự chủ tài chính, tự đảm bảo chi thường xuyên tại TP.HCM. Ảnh: Đ.N.T

Tại một hội nghị tự chủ ĐH vừa được tổ chức ở Hà Nội mới đây, lý giải về việc tăng học phí ĐH, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn cho rằng cần nhìn nhận thực chất của vấn đề. Hiện nay, tổng số kinh phí đầu tư tính cho một siпh viên còn rất thấp so với mặt bằng chung của thế giới. Muốn nâng cao chất lượng GD-ĐT, cần nâng cao mức đầu tư cho siпh viên, thông qua việc đầu tư vào cơ sở vật chất, thu hút đội ngũ giảng viên giỏi.

Theo Thứ trưởng Hoàng Minh Sơn, một số trường ĐH trong khu vực có mức chi phí cao gấp hàng chục lần so với chi phí tại các trường ĐH công lập ở Việt Nam. Nếu giữ nguyên mức đầu tư như hiện nay, các trường ĐH trong nước rất khó để cạnh tranh.

Lý giải ấy của lãnh đạo Bộ GD-ĐT, của quyền Hiệu trưởng Trường ĐH Luật TP.HCM cũng như lãnh đạo nhiều trường ĐH khác trong cả nước không sai. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia, thậm chí bản thân những người làm giáo dục ĐH lại có cách nhìn khác xung quanh câu chuyện này.

Cách đây 2 năm, tại Hội thảo “Tự chủ ĐH - Từ chính sách đến thực tiễn”, PGS.TS Vũ Thị Lan Anh - Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Luật Hà Nội, đã nêu ý kiến cho rằng, tự chủ nhưng không được làm giảm cơ hội tiếp cận của người nghèo, của người diện chính sách. Tác động tiêu cực rõ nét nhất của tự chủ ĐH là dễ dẫn đến tình trạng các cơ sở giáo dục ĐH chỉ chú trọng vấn đề tự chủ tài chính.

Từ đó, bằng mọi giá tăng nguồn thu qua học phí khi Nhà nước thay đổi cách thức sử dụng ngân sách và các nguồn lực đầu tư cho các cơ sở giáo dục ĐH, không bao cấp dàn trải như trước. Điều này có khả năng dẫn đến việc các trường bỏ qua trách nhiệm xã hội, đồng thời, có thể khiến người nghèo mất đi cơ hội sử dụng dịch vụ giáo dục ĐH.

Bên cạnh đó, như chia sẻ của Giáo sư Phan Thanh Bình - Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, vấn đề ông quan tâm nhất là cách tính học phí của các trường ĐH hiện nay như thế nào.

Còn TS. Mai Văn Tỉnh - Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng từng thẳng thắn chia sẻ, trong tự chủ, học phí của người học phải dựa trên nguyên tắc tính đúng, tính đủ, nhưng không có nghĩa tất cả đổ lên đầu sinh viên, mà cần các nguồn xã hội hoá khác cùng chung tay và có trách nhiệm với nhân lực tương lai. 

Còn GS.TS Nguyễn Trọng Hoài và TS. Trần Bá Linh - ĐH Kinh tế TP.HCM, trong một báo cáo gửi Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, về chuyên đề học phí đã từng lưu ý, hiện nay tại các trường ĐH Việt Nam, học phí là một nội dung quan trọng, chiếm hơn 80% nguồn thu của hệ thống và trong nghiên cứu, hai tác giả đặt ra 3 nguyên tắc để xây dựng học phí cho các trường ĐH khi thực hiện tự chủ là chất lượng đào tạo, tính cạnh tranh và sự công bằng xã hội.

3. Rõ ràng, đến thời điểm này, có lẽ nhiều người sẽ không phản đối trước quan điểm cho rằng giáo dục là một ngành sản xuất đặc biệt tạo nên những sản phẩm cũng hết sức đặc biệt và đặc thù. Để có được những sản phẩm chất lượng cao, chi phí đòi hỏi cao cũng là chuyện đương nhiên. Và để đổi lại, rõ ràng học phí cao phải đi cùng với chất lượng tăng.

Nhưng theo nhiều chuyên gia, câu chuyện “trăm dầu đổ đầu học phí” rõ ràng là còn nhiều điều bất ổn, “tự chủ đại học không có nghĩa là tăng học phí, đổ hết lên đầu sinh viên”. Điều quan trọng nhất, nói như các chuyên gia, trong các thành tố của xây dựng học phí, không thể không tính đến câu chuyện công bằng cũng như phát triển xã hội. Tăng học phí không có nghĩa là giảm công bằng xã hội, không có nghĩa là giảm sự tiếp cận giáo dục ĐH.

Chúng ta đang trên lộ trình điều chỉnh học phí ở mức đúng và đủ nhưng không có nghĩa là để học phí tăng đột biến. Bên cạnh đó, như chia sẻ của PGS.TS Nguyễn Ninh Thụy - Trưởng ban Ban Kế hoạch - Tài chính, ĐH Quốc gia TP.HCM tại hội nghị Tự chủ ĐH vừa qua, để giảm bớt gánh nặng học phí, các trường cần đẩy mạnh hoạt động để tăng nguồn thu khác nhưng việc gia tăng các nguồn thu phụ thuộc vào quy định pháp luật cũng như cần thời gian lâu dài. 

Hay nói như PGS. Lan Anh, còn là việc xây dựng chính sách phù hợp (tín dụng sinh viên, hỗ trợ sinh viên, xã hội hóa giáo dục ĐH…)… Nói chung, đó vẫn là câu chuyện hài hòa, hài hòa giữa yêu cầu đào tạo của nhà trường và quyền được học tập của mỗi người dân.

Nguyễn Hà

Xem thêm

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

(NB&CL) Nội dung giật gân, những tập phim nối tiếp và lời mời trả phí có thể cuốn người xem vào hàng giờ giải trí, tiêu tiền ngoài dự tính. Rủi ro càng đáng quan tâm khi trẻ em tiếp cận nội dung không phù hợp độ tuổi. Phim ngắn AI đang đặt Việt Nam trước bài toán quản lý cả nội dung, nền tảng phân phối và dòng tiền. Sự phát triển của phim ngắn AI đòi hỏi cách quản lý phù hợp với tốc độ sản xuất và thói quen xem phim trên điện thoại. 

Việc triển khai cấp phát miễn phí SGK cho học sinh phổ thông toàn thành phố không chỉ khẳng định triết lý “lấy con người làm trung tâm” mà còn là bước đột phá lớn để bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Ảnh Sở GD&ĐT.

Bài 3: Lấy con người làm trung tâm - “Trái tim” của sự phát triển bền vững

(CLO) Không nằm ở những con số tăng trưởng mang tính định lượng khô khan hay các siêu dự án tỷ USD, thước đo nhân văn và sắc nét nhất cho sự bứt phá của Thành phố Quảng Ninh chính là việc định hình lại tiêu chuẩn sống, biến mỗi người dân thành trung tâm thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển.

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

(CLO) Có những buổi tối, tôi nghe tiếng phim phát ra từ điện thoại của vợ mà phát bực. Ăn cơm xong, cô ấy lại nằm xuống xem những bộ phim ngắn với những nhân vật đẹp đến mức không thật, những câu chuyện quanh đi quẩn lại chuyện phản bội, bị coi thường, lật ngược thân phận rồi trả thù. Hết một đoạn lại “Tập tiếp theo”, và cứ thế câu chuyện kéo dài đến khuya.

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Cỡ chữ bài viết: