Điều chỉnh kích thước chữ

Làn sóng COVID mới làm suy yếu sự phục hồi kinh tế Đông Nam Á

(CLO) Ngoài nền kinh tế Thái Lan với mức giảm 2,6%, các quốc gia khác trong khu vực cũng đã chứng kiến sự suy giảm kinh tế hàng năm trong quý đầu tiên, với Philippines ở mức âm 4,2%, Indonesia âm 0,7% và Malaysia âm 0,5%.

Audio
Một người phụ nữ đẩy xe bán đồ ăn của mình dọc theo con phố giải trí nổi tiếng quốc tế bị khóa ở Bangkok, ngày 5 tháng 5 năm 2021. Ảnh: AP.

Một người phụ nữ đẩy xe bán đồ ăn của mình dọc theo con phố giải trí nổi tiếng quốc tế bị khóa ở Bangkok, ngày 5 tháng 5 năm 2021. Ảnh: AP.

Tất cả các quốc gia này đều trải qua đợt bùng phát COVID-19 cục bộ, làm gián đoạn các hoạt động kinh tế trong quý.

Tác động của đại dịch COVID-19 kéo dài đã làm trì hoãn sự phục hồi kinh tế ở Đông Nam Á, khi Thái Lan trở thành nước thứ tư trong sáu nền kinh tế lớn trong khu vực phải chịu sự suy giảm kinh tế hàng năm trong ba tháng đầu năm 2021.

Các đợt bùng phát mới tại địa phương của căn bệnh này đang làm lu mờ các dự báo kinh tế của các nước trong khu vực.

Nền kinh tế Thái Lan đã giảm 2,6% trong quý đầu tiên so với cùng kỳ năm ngoái, theo cơ quan kế hoạch kinh tế của chính phủ, Văn phòng Hội đồng Phát triển Kinh tế và Soial Quốc gia, hay NESDC. Mức giảm hàng năm trong quý 4 liên tiếp này nhỏ hơn mức giảm 4,2% được ghi nhận trong quý 4 năm 2020.

Trên cơ sở hàng quý được điều chỉnh theo mùa, nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng 0,2%, sau mức tăng trưởng 1,1% khi kết thúc quý 4 vào tháng 12 năm 2020.

NESDC cũng đã điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng năm 2021 từ 2,5% -3,5% xuống 1,5% -2,5%, trong lần điều chỉnh giảm thứ hai. Dự báo tăng trưởng đầu tiên mà tổ chức đưa ra vào tháng 11 năm 2020 là từ 3,5% -4,5%.

Tổng thư ký NESDC Danucha Pichayanan cho biết trong một cuộc họp báo: “Sự bùng phát của COVID-19 nên được kiểm soát vào tháng 6 trở đi”. Ông nói thêm: “Việc tiêm phòng suôn sẻ là một yếu tố quan trọng để nền kinh tế Thái Lan mở rộng.”

Trong quý đầu tiên, Thái Lan đã bị ảnh hưởng bởi đợt virus thứ hai và thứ ba. Làn sóng thứ hai, phát triển vào giữa tháng 12 và kéo dài đến đầu tháng 2 đã khiến cho nhiều nhà hàng ở các khu vực như Bangkok phải đóng cửa. Các cơ sở kinh doanh như quán bar, quán rượu karaoke và spa mát-xa được coi là nơi dễ bị lây nhiễm vi-rút đã bị yêu cầu đóng cửa.

Làn sóng thứ ba đang diễn ra, nhưng, vì nó chỉ bắt đầu vào cuối tháng 3 nên các tác động bất lợi của nó đã giảm bớt trong quý đầu tiên. Nhưng dịch bệnh vẫn là khủng hoảng nhất xảy ra với vương quốc này. Các nhà hàng ở các tỉnh bị ảnh hưởng bởi đại dịch đã được yêu cầu chỉ phục vụ các bữa ăn chỉ bán mang về. Người dân ở những khu vực này được yêu cầu hạn chế đi du lịch khắp các tỉnh, và cũng nên làm việc tại nhà càng nhiều càng tốt.

Sau khi bị ngành nhà hàng phản đối kịch liệt, chính phủ bắt đầu cho phép các dịch vụ ăn tối hoạt động bắt đầu từ thứ 2 này, ngay cả ở những tỉnh bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Tuy nhiên, doanh thu của nhà hàng sẽ vẫn ở mức thấp, do số chỗ ngồi trong nhà hàng sẽ bị giới hạn ở mức 25%. Tác động kinh tế sẽ rõ ràng hơn trong tổng sản phẩm quốc nội của đất nước trong quý II.

Các hạn chế việc đi lại đã làm chậm lại chi tiêu tiêu dùng tư nhân, vốn đã giảm 0,5% so với cùng kỳ năm ngoái trong quý đầu tiên, trái ngược với mức tăng trưởng 0,9% được ghi nhận trong quý 4 năm 2020.

Tình trạng thiếu khách du lịch cũng đã khiến cho nền kinh tế đất nước bị ảnh hưởng. Mặc dù chính phủ Thái Lan rất mong muốn mở cửa đất nước phụ thuộc vào du lịch, nhưng làn sóng virus đã làm gián đoạn các luồng du khách hướng nội. Xuất khẩu dịch vụ, bao gồm chi tiêu của những người không cư trú như khách du lịch, giảm 63,5% trong ba tháng kết thúc vào tháng 3. Xuất khẩu hàng hóa lần đầu tiên tăng trưởng trong 4 quý qua và ghi nhận mức tăng 3,2%.

Ngoài Thái Lan, các quốc gia khác trong khu vực đã chứng kiến sự suy giảm kinh tế hàng năm trong quý đầu tiên, với Philippines ở mức âm 4,2%, Indonesia âm 0,7% và Malaysia âm 0,5%. Tất cả các quốc gia này đều trải qua đợt bùng phát COVID-19 cục bộ, làm gián đoạn các hoạt động kinh tế trong quý.

Trong khi đó, Singapore tăng 0,2% và Việt Nam tăng xuất sắc 4,5% là hai trong số sáu nền kinh tế lớn trong khu vực có mức tăng trưởng tích cực. Sung Eun Jung, một nhà kinh tế từ Oxford Economics, cho biết: “Cả hai quốc gia này đều được hưởng lợi từ sản lượng sản xuất mạnh mẽ và sự mở rộng trong lĩnh vực thương mại bán buôn và tái thẩm”. Bà nói: “Họ cũng có chiến dịch phòng chống COVID tốt hơn rất nhiều, điều này sẽ giúp duy trì sự phục hồi liên tục của nhu cầu trong nước.”

Đối với hầu hết các nước ASEAN, quý II năm 2020 là thời kỳ đầu tiên họ cảm nhận được ảnh hưởng của đại dịch trong suốt ba tháng. Do hiệu ứng cơ bản từ giai đoạn đó, các nền kinh tế khu vực sẽ dễ dàng ghi nhận mức tăng trưởng hàng năm trong quý hiện tại.

Tuy nhiên, tương lai của nhiều quốc gia trong khu vực vẫn còn bị che đậy bởi sự không chắc chắn do sự bùng phát trở lại gần đây của COVID-19 trên khắp khu vực.

Tiến độ của các chương trình tiêm chủng ở mỗi quốc gia sẽ tác động đến chi tiêu của người dân. Vào ngày 5 tháng 5, Ngân hàng Trung ương Thái Lan đã đưa ra các dự báo kinh tế dựa trên các kịch bản nhất định. Nếu 100 triệu liều vắc-xin được phân phối vào năm 2021 để người dân đất nước đều có được miễn dịch với COVID-19 vào quý đầu tiên của năm 2022, thì ngân hàng trung ương dự kiến nền kinh tế sẽ tăng trưởng 2,0% vào năm 2021 và 4,7% vào năm 2022.

Sự chậm trễ trong việc đạt được miễn dịch cho đến quý 3 năm 2022 sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Lan xuống 1,5% vào năm 2021 và 2,8% vào năm 2022. Còn nếu đến tận quý cuối cùng của năm 2022, người dân Thái Lan mới được tiêm chủng thì nền kinh tế sẽ chỉ tăng trưởng 1,0% và 1,1%, theo dự báo của ngân hàng.

Chiến lược gia Margaret Yang từ Daily FX ở Singapore cho biết: “Tiến độ vắc xin tương đối chậm trong khu vực và các chủng vi rút đột biến có thể tạo thêm sự không chắc chắn cho tốc độ phục hồi kinh tế”. Bà nói thêm: “Chúng tôi đang nhìn thấy một con đường phục hồi không đồng đều giữa các lĩnh vực khác nhau và các quốc gia khác nhau. Khoảng cách này có thể vẫn còn tồn tại trong quý II khi các nền kinh tế phải vật lộn với virus, lạm phát và thất nghiệp”.