Điều chỉnh kích thước chữ

70 năm chiến tranh Triều Tiên: Nỗi đau còn day dứt

(CLO) 70 năm trước, vào ngày 25/6/1950, chiến tranh Triều Tiên nổ ra. Quân đội Triều Tiên tấn công Hàn Quốc, bắt đầu cho cuộc chiến kéo dài hơn 3 năm khi ban đầu là cuộc chiến giữa Triều Tiên và Hàn Quốc, sau đó kéo theo sự tham gia của nhiều nước trong đó có Mỹ, Trung Quốc và Liên Xô.

Audio
Đúng ngày này 70 năm trước, 25/6/1950, cuộc chiến tranh Triều Tiên đã nổ ra - Ảnh: Wiki

Đúng ngày này 70 năm trước, 25/6/1950, cuộc chiến tranh Triều Tiên đã nổ ra - Ảnh: Wiki

Chiến tranh Triều Tiên diễn ra trong khoảng thời gian không dài, nhưng nó để lại vết thương dai dẳng, khiến nhiều gia đình phải ly tán, người Bắc kẻ Nam, và giấc mơ thống nhất hai miền còn rất xa vời khi mà hai bên vẫn tồn tại nhiều bất đồng chưa thể giải quyết. 

Trước khi dẫn tới chiến tranh Triều Tiên, quốc gia này bị đế quốc Nhật Bản đô hộ và chia tách thành hai miền từ năm 1910. Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, bán đảo Triều Tiên tiếp tục bị chia làm hai phần, với ranh giới là vĩ tuyến 38, phần miền Bắc do Liên Xô quản lý, phần phía Nam do Mỹ kiểm soát, đồng thời thực hiện chế độ ủy trị tại đây trong thời gian 5 năm. 

Năm 1946, một ủy ban liên hợp về vấn đề Triều Tiên ra đời, với mục tiêu thúc đẩy sự thống nhất trên bán đảo Triều Tiên. Tuy nhiên, sau khi xảy ra chiến tranh lạnh năm 1947, Liên Xô và Mỹ không còn mặn mà với việc tiến hành các cuộc bầu cử thống nhất hai miền Triều Tiên. 

Năm 1948, lần lượt hai miền Triều Tiên tổ chức bầu cử riêng rẽ, hai chính quyền ở hai miền không ngừng xung đột do quan điểm khác biệt về phát triển đất nước. Từ cuối năm 1949 đến đầu năm 1950, hơn 1.800 vụ đụng độ lớn nhỏ khác nhau đã nổ ra giữa quân đội hai miền tại khu vực biên giới.

Đỉnh điểm căng thẳng xảy ra vào ngày 25/6/1950, chiến tranh nổ ra kéo theo sự tham gia trực tiếp của Mỹ, Trung Quốc và 14 quốc gia thuộc lực lượng can thiệp của Liên Hợp Quốc. 

Đối với các lãnh đạo của Hàn Quốc và Hoa Kỳ, cuộc tấn công của Triều Tiên tạo thành một bất ngờ chiến lược mà họ hoàn toàn không chuẩn bị. Tuy nhiên, trong vòng hai ngày, chính quyền của Tổng thống Harry Truman ở Hoa Kỳ đã tìm cách huy động Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thông qua hai nghị quyết quan trọng.

Đầu tiên chỉ trích cuộc xâm lược của Triều Tiên và kêu gọi các lực lượng vũ trang của họ rút ngay lập tức khỏi Hàn Quốc; thứ hai kêu gọi các thành viên của Liên Hợp Quốc cho vay hỗ trợ cho Hàn Quốc trong nỗ lực đẩy lùi cuộc xâm lược.

Truman đặt mục tiêu rõ ràng, giải phóng Hàn Quốc và chọn điều mà ông tin là phương tiện phù hợp nhất để đạt được nó: khơi gợi sự hỗ trợ quốc tế như một phần của chiến dịch ngoại giao nhằm phân định khuôn khổ pháp lý sẽ hợp pháp hóa việc sử dụng vũ lực.

Để chắc chắn, ngoài việc xác định một chính sách và áp dụng các công cụ để thực hiện nó, chính quyền Truman đã tận dụng các tình huống thuận lợi khiến nhiệm vụ của nó dễ dàng hơn đáng kể.

- Khoảng 290.000 lính Bắc Triều Tiên, 148.000 chí nguyện quân Trung Quốc đã chết. 

- Ước tính 390.000 quân Mỹ, 660.000 quân Nam Triều Tiên, và 29.000 quân các nước khác đã tử trận. 

- Hoa Kỳ đã ném tổng cộng 635.000 tấn bom, trong đó có 32.557 tấn napalm tại Triều Tiên.

Nhờ việc Liên Xô vắng mặt vì tẩy chay Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc để phản đối tổ chức này từ chối chấp nhận chỉnh phủ Cộng sản Trung Quốc làm thành viên thay vì chính phủ Quốc gia, nay là Đài Loan, Hoa Kỳ đã thông qua hai nghị quyết nói trên mà không có quyền phủ quyết của Liên Xô.

Một lực lượng quốc tế do Hoa Kỳ lãnh đạo được thành lập để giúp Hàn Quốc đẩy lùi cuộc xâm lược của Triều Tiên. Đây là một nỗ lực quốc tế thực hiện lệnh trừng phạt của Liên Hợp Quốc. Truman gọi đó là một hành động của cảnh sát, một hành động hợp pháp của một thực thể có thẩm quyền.

Mặc dù bị bất ngờ, Hoa Kỳ đã chứng kiến ​​chủ nghĩa cộng sản tiến lên mạnh mẽ như thế nào, dần dần nhưng chắc chắn: Cuộc khủng hoảng Berlin 1948-1949, cuộc đảo chính cộng sản ở Tiệp Khắc năm 1948, chiến thắng của lực lượng cộng sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo trong cuộc nội chiến ở Trung Quốc năm 1949 và sự mất độc quyền về vũ khí nguyên tử của Mỹ khi Liên Xô sở hữu cũng nó vào năm 1949.

Do đó, cuộc xâm lược Hàn Quốc của Triều Tiên được Hoa Kỳ xem là sự tiếp nối của một quá trình đi lên, nhưng theo một nghĩa nào đó là một bước ngoặt. Truman đã so sánh nó với việc tái vũ trang của Đức tại Xứ Wales năm 1936.

Nói cách khác, Hoa Kỳ muốn phải có hành động quyết định để chống lại một cuộc khủng hoảng tồi tệ hơn trong tương lai tránh lặp lại những gì Anh và Pháp không làm được vào năm 1936. Chủ nghĩa cộng sản bị cho là một hệ tư tưởng bành trướng do một Liên Xô hùng mạnh lãnh đạo.

Chính quyền Truman đã ban hành chính sách của mình đối với chủ nghĩa cộng sản vào năm 1947. “Học thuyết Truman” chuyển thành các khái niệm giới luật về chính sách ngăn chặn được sự ủng hộ bởi nhà ngoại giao Hoa Kỳ George Kennan.

Tin tưởng rằng Liên Xô sẽ tận dụng mọi cơ hội để mở rộng chính trị và lãnh thổ, Kennan khuyến nghị Hoa Kỳ triển khai các công cụ chính trị, kinh tế và tuyên truyền để ngăn chặn. Trái ngược với Đức Quốc xã, Liên Xô có thể bị ngăn chặn bởi một chính sách răn đe hợp lý.

Giới lãnh đạo Liên Xô và Trung Quốc đã hỗ trợ Triều Tiên trong các kế hoạch tấn công, tin rằng Hoa Kỳ sẽ không phản ứng quân sự. Họ đã rất ngạc nhiên khi Mỹ tham chiến. Thậm chí, quân đội liên quân do Hoa Kỳ dẫn đầu và Hàn Quốc quyết định vượt qua vĩ tuyến 38, ranh giới tạm thời ngăn cách Bắc và Nam Triều Tiên. Sự ngạc nhiên của họ biến thành nỗi lo lắng.

Tránh một nguy cơ thất bại của Triều Tiên, Trung Quốc đã cảnh báo Hoa Kỳ thông qua nhiều trung gian khác nhau rằng họ sẽ can thiệp vào cuộc chiến khi quân đội Hoa Kỳ và Hàn Quốc đang tiến sâu hơn về phía bắc, về phía biên giới Trung Quốc.

Quân đội liên quân do Mỹ dẫn đầu đã vượt qua vĩ tuyến 38 đe dọa Triều Tiên - Ảnh: psdtolive/Alex

Quân đội liên quân do Mỹ dẫn đầu đã vượt qua vĩ tuyến 38 đe dọa Triều Tiên - Ảnh: psdtolive/Alex

Tuy nhiên,Truman nói rõ với các cố vấn của mình rằng ông ta muốn giải phóng Hàn Quốc mà không bị lôi kéo vào cuộc chiến với Liên Xô hoặc Trung Quốc. Song các cảnh báo của Trung Quốc đã bị các quan chức Hoa Kỳ bác bỏ vì cho rằng Trung Quốc đang cố đánh lừa. CIA đánh giá rằng cả Trung Quốc và Liên Xô sẽ không can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến để tránh cuộc đối đầu toàn diện với Hoa Kỳ.

Trung Quốc ban đầu chỉ có ý định răn đe, nhưng sự răn đe sẽ thất bại nếu họ không đưa ra hành động được coi là đáng tin cậy.

Hoa Kỳ lại một lần nữa bị bất ngờ. Vào ngày 26 tháng 11 năm 1950, quân đội Trung Quốc hay còn gọi là chí nguyện quân tham gia trực tiếp vào cuộc chiến khi hàng trăm ngàn binh sĩ của họ vượt qua biên giới để đẩy lùi cuộc tấn công của Hoa Kỳ và Hàn Quốc vào Bắc Triều Tiên.

Điều mà Truman ít muốn nhất đã thực sự xảy ra. Những gì bắt đầu như một nỗ lực ngoại giao và quân sự được quốc tế phê chuẩn để giải phóng Hàn Quốc đã biến thành một cuộc đối đầu quân sự lớn giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Trung Quốc đã ủng hộ Triều Tiên trong cuộc tấn công Hàn Quốc, nhưng giờ cần phải bảo vệ Triều Tiên khỏi sự sụp đổ về chế độ chính trị. Ngoài ra, Triều Tiên cũng quan trọng như một bước đệm chống lại Hoa Kỳ. Giới lãnh đạo Trung Quốc sợ rằng mục tiêu cuối cùng của Hoa Kỳ là tấn công Trung Quốc và lật đổ chế độ cộng sản đã nắm quyền từ năm 1949.

Đó chắc chắn không phải là mục tiêu của Truman. Thật vậy, khi Tướng Douglas MacArthur, người đứng đầu lực lượng quốc tế tại Hàn Quốc, đã thúc giục Truman mở rộng chiến tranh bằng cách tấn công Trung Quốc đại lục, ông đã từ chối. Một cuộc tấn công vào Trung Quốc đại lục có thể mở rộng cuộc chiến hơn nữa, ông lo ngại, có thể dẫn đến sự can thiệp trực tiếp của Liên Xô. Khi MacArthur công khai sự bất đồng của mình với Truman, Tổng thống đã sa thải ông này sau đó.

Truman muốn giới hạn cuộc chiến chỉ ở Hàn Quốc. Sự can thiệp trực tiếp của Trung Quốc là một sự phát triển không mong muốn nhất, điều mà ông hy vọng cuộc chiến sẽ không mở rộng ra bên ngoài Triều Tiên.

Sau ba năm, chiến cuộc tạm ngưng khi hai miền đạt được một thỏa hiệp ngừng bắn vào ngày 27 tháng 7 năm 1953. Về tổng thể, hiện trạng lãnh thổ và chính trị tồn tại trước khi chiến tranh bùng nổ vào năm 1950 được khôi phục.

Mặc dù thỏa thuận ngừng bắn đã đạt được, nhưng do không có hiệp định hòa bình nên trên thực tế hai miền Triều Tiên vẫn ở trong tình trạng chiến tranh trong nhiều thập kỷ. Phải đến ngày 27 tháng 4 năm 2018, khi Chủ tịch Kim Jong Un và Tổng thống Moon Jae-in gặp nhau tại Bàn Môn Điếm, ký hợp ước hòa bình, chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên mới thực sự chấm dứt sau 68 năm.

Làng đình chiến, khu vực phi quân sự ở biên giới Triều Tiên - Hàn Quốc - Ảnh: Reuters

Làng đình chiến, khu vực phi quân sự ở biên giới Triều Tiên - Hàn Quốc - Ảnh: Reuters

Tròn 7 thập kỷ đã trôi qua kể từ cuộc chiến đẫm máu giữa hai miền xảy ra vào ngày 25 tháng 6 năm 1950. Với những người dẫn Triều Tiên, đây là cuộc chiến đáng quên và không muốn nhắc tới bởi khát khao của đông đảo người dân hai miền về một Bán đảo Triều Tiên thống nhất vẫn chưa thành hiện thực.

Suốt 70 năm qua, mối quan hệ giữa hai miền lúc thăng lúc trầm. Lúc tưởng chừng xung đột vũ trang thực sự sẽ xảy ra như năm 2010 hay năm 2017, lúc tưởng như hòa bình lâu dài đã cận kề khi các thế hệ lãnh đạo hai bên đều có những nỗ lực cải thiện mối quan hệ liên Triều.

Sau thỏa thuận lịch sử đạt được năm 2018, những người yêu hòa bình tin tưởng và hy vọng hai miền Triều Tiên sẽ “tay nắm tay” để cùng nhau hướng tới tương lai, nhưng thực tế vẫn còn tồn tại một số vấn đề để hai bên thực sự gạt bỏ bất đồng vì nền hòa bình lâu dài.

Những ngày gần đây, quan hệ hai miền lại trở về thời kỳ “đóng băng” khi Triều Tiên cắt quan hệ ngoại giao, phá hủy văn phòng liên lạc liên Triều và rải truyền đơn chống lại chính quyền Hàn Quốc như là những phản ứng gay gắt đối với việc chính phủ Hàn Quốc không có hành động ngăn cản những kẻ đào tẩu Triều Tiên đã rải truyền đơn chống lại chính phủ Triều Tiên.

Có thể nói, tiến trình hòa bình tại Bán đảo Triều Tiên còn nhiều gian nan khi mà những lợi ích và quan điểm của hai bên còn nhiều đối nghịch.

Bất chấp việc các nhà lãnh đạo Mỹ và Triều Tiên đã ký tuyên bố chung ngày 12/6/2018 với cam kết kiến tạo một nền hòa bình bền vững trên Bán đảo Triều Tiên sau hơn nửa thế kỷ, thì việc thiết lập nền hòa bình lâu dài gắn liền với phi hạt nhân hóa trên Bán đảo Triều Tiên là điều không thể đạt được một sớm một chiều. Nhất là khác biệt khó hóa giải giữa Mỹ và Triều Tiên cùng sự can thiệp của các bên có lợi ích liên quan, dẫn tới sự bất đồng trong trình tự thực hiện thỏa thuận phi hạt nhân hóa.

Mỹ muốn Triều Tiên phải tiến hành phi hạt nhân hóa một cách hoàn toàn, có kiểm chứng và không thể đảo ngược trước rồi mới dỡ bỏ các lệnh trừng phạt, trong khi Triều Tiên lại muốn phi hạt nhân hóa từng giai đoạn, cụ thể Mỹ phải ký tuyên bố kết thúc chiến tranh, đảm bảo an ninh cho chế độ, dỡ bỏ trừng phạt...

70 năm dài gần bằng cuộc đời của một con người. Những cựu binh từng tham gia ở cuộc chiến 70 năm trước ở hai bên có lẽ  bây giờ chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, nhưng ngay cả khi họ nằm xuống thì nỗi day dứt về một Triều Tiên thống nhất dường như sẽ vẫn còn nguyên vẹn.