95 năm: Vinh quang và trách nhiệm

(CLO) Tháng 6 này, nền báo chí cách mạng nước nhà đã đi trọn hành trình 95 năm. Nhìn lại hành trình ấy, những người làm báo Việt Nam có thể tự hào rằng, báo chí cách mạng đã có một hành trình phát triển đầy vinh quang và trách nhiệm: trách nhiệm với đất nước, với nhân dân, với dân tộc.

Cách đây đúng tròn 95 năm, ngày 21/6/1925, Báo Thanh Niên, cơ quan của Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội ra số đầu tiên. Thời khắc ấy đã đi vào lịch sử khi đánh dấu sự khởi nguồn một dòng báo chí hoàn toàn mới trong lịch sử báo chí Việt Nam: Báo chí cách mạng.

Nhà báo lão thành Phan Quang, khi nhắc nhớ về sự khởi đầu mà nhiều nhà sử học đánh giá là mốc son chói lọi ấy của nền Báo chí cách mạng Việt Nam, đã có bài viết đại ý rằng, mốc son không phải là một ngôi sao từ trên trời cao bất ngờ hạ xuống và tỏa sáng. Đó là kết tinh của quá trình chắt lọc, tiếp nhận, phát huy tinh hoa văn hóa Việt Nam thể hiện qua 60 năm báo chí tiếng Việt và tiếng Pháp; Đó là sự tiếp thu tinh hoa báo chí tiến bộ thế giới, mà cốt lõi là vì quyền tự do ngôn luận của người dân hướng về chính nghĩa, coi báo chí là vũ khí đấu tranh vì quyền lợi của những người lao động và hợp tác quốc tế.

Nói như vậy để thấy, hai từ trách nhiệm chính là nguyên cớ sâu xa nhất cho sự ra đời của tờ Thanh Niên, của nền Báo chí Cách mạng Việt Nam

Nói như vậy, bởi, trước cột mốc Thanh Niên 21/6/1925, tại Việt Nam, đã manh nha xu hướng báo chí yêu nước với sự xuất hiện nhiều tờ báo của các tổ chức cách mạng, của một số tri thức yêu nước với mong muốn thức tỉnh tinh thần dân tộc, tinh thần yêu nước trong mỗi người Việt Nam. Đơn cử như Tiếng Chuông rè (La Cloche Fêlée) xuất bản bằng tiếng Pháp của nhà yêu nước Nguyễn An Ninh (ra mắt số đầu tiên ngày 10/12/1923) với mục tiêu “Gióng lên từng hồi chuông trong đêm tối... để hướng dẫn cho những nỗ lực của mình, những kẻ gióng chuông chỉ có một dòng máu dân tộc đang sôi réo trong tim...”.

Nhưng phải đến Nguyễn Ái Quốc, từ quan điểm: “Tôi gọi báo là một tờ báo về chính trị, về kinh tế hay văn học như ta thấy ở châu Âu và một số nước châu Á khác, chứ không phải một tờ do chính quyền thành lập và giao cho bọn tay chân điều khiển, chỉ nói đến chuyện nắng mưa, tán dương những kẻ quyền thế đương thời, kể chuyện vớ vẩn, ca ngợi công ơn của nền khai hóa ra ru ngủ dân chúng” tới việc tạo nên hình hài của những tờ báo như Le Paria (Người cùng khổ) vào năm 1922 tại Paris tới Thanh Niên, vào năm 1925 tại Quảng Châu, mới thực sự khởi nguồn cho một phong cách, quan điểm làm báo mới: lĩnh trên vai sứ mệnh, trách nhiệm với dân tộc, nhân dân, đất nước. Nền Báo chí Cách mạng của nước Việt Nam mới từ mốc son ấy, thực sự bước vào hành trình đầu tiên. 

Từ cú khai phá mở đường của Thanh Niên, có thể nói có cả rừng nhỏ báo chí cách mạng ra đời, công khai có, bí mật có. Từ tháng 6/1925 đến tháng 8/1945, theo một số thống kê, có khoảng hơn 270 tờ báo và tạp chí ra đời. Riêng thời kỳ đỉnh cao vào thời kỳ 1935 - 1938, cả nước có tới trên 100 tờ. Các xứ ủy, tỉnh ủy, nhiều huyện ủy và chi bộ cũng ra báo. Các chi bộ cộng sản trong một số nhà tù lớn cũng đã xuất bản báo và tạp chí. Thế nên các nhà nghiên cứu lịch sử báo chí thống nhất với nhau rằng, hiếm có một Đảng non trẻ nào như Đảng Cộng sản Việt Nam có được một hệ thống báo chí độc đáo đến như vậy: dòng báo chí trong tù như Báo chí Cách mạng Việt Nam. Bắt đầu từ cuộc khủng bố trắng của thực dân Pháp sau cao trào 1930 – 1931. Có thể kể ra đây những tờ tiêu biểu như Lao Tù Đỏ (sau đổi thành Lao Tù, Lao tù Tạp chí... ) của Nhà tù Hỏa Lò Hà Nội, Bàn Góp, Hòn Cau Tuần báo, Ý Kiến Chung, Người Tù Đỏ (Sau đổi là Tù nhân, Tiến Lên) của Nhà tù Côn Đảo; Suối Reo của Nhà tù Sơn La…

Từ việc xuất bản bí mật, không hợp pháp thời kỳ trước năm 1936 đến việc được phép xuất bản công khai ở cả ở ba miền thời kỳ 1936-1939, rồi lại buộc phải rút vào bí mật để tránh sự đàn áp, bắt bớ của địch; thời kỳ cuối năm 1939, đầu năm 1940, Báo chí Cách mạng Việt Nam vẫn luôn kiên định, quyết chí với mục tiêu tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối cách mạng, chuẩn bị điều kiện để đón thời cơ đưa cách mạng tiến lên một cao trào mới đến phục vụ tích cực cho xây dựng lực lượng vũ trang, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và đến thời kỳ cao trào cứu nước 1939-1945, báo chí đã góp công đầu trong việc đẩy mạnh cao trào cách mạng và giành thắng lợi lịch sử tháng Tám 1945, trong đó không thể không kể đến những cái tên nổi bật như Cờ giải phóng, Cứu quốc… Chính sự phát triển phong phú của báo chí dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tạo ảnh hưởng rộng rãi của Đảng với quần chúng nhân dân, tăng cường vị thế của Đảng trong đấu tranh vận động cách mạng, góp phần tạo nên thành công của Đảng trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, mà đỉnh cao là cuộc cách mạng mùa Thu, giành độc lập tự do cho dân tộc.

Từ tháng 8/1945 trở đi, dưới chế độ dân chủ nhân dân, báo chí cách mạng xuất bản công khai, in ty-pô với số lượng lớn. Báo Cứu quốc xuất bản hàng ngày là tờ báo lớn nhất cả nước. Trong làng báo xuất hiện hai cơ quan mới: Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam và Việt Nam Thông tấn xã (nay là Thông tấn xã Việt Nam). Cuối năm 1945, Đảng chuyển vào bí mật, báo Cờ giải phóng ngừng xuất bản; báo Sự Thật ra đời với danh nghĩa cơ quan của Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương. Trong năm đầu của chính quyền cách mạng, báo chí phục vụ tích cực cho nhiệm vụ bảo vệ chính quyền non trẻ.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ hai bùng nổ và lan rộng. Báo chí cách mạng có một bộ phận xuất bản công khai ở các vùng tự do và các căn cứ kháng chiến, một bộ phận xuất bản trong vùng địch chiếm. Những văn kiện của Đảng, bài nói và viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo của Đảng được in trên các báo Trung ương và các báo địa phương. Năm 1951, báo Nhân Dân, cơ quan Trung ương của Đảng bắt đầu xuất bản, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Sinh hoạt nội bộ, báo Quân đội Nhân dân ra đời.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, nước ta tạm thời chia làm 2 miền với 2 nhiệm vụ chiến lược khác nhau nhưng có một nhiệm vụ chung: Đánh đổ đế quốc Mỹ và tay sai, hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc. Báo chí của ta hình thành báo chí tự do ở miền Bắc và báo chí xuất bản bí mật bất hợp pháp ở vùng địch tạm chiếm ở miền Nam. Trong điều kiện mới, báo chí miền Bắc có những bước tiến vượt bậc. Báo Nhân Dân ra hàng ngày, in với số lượng lớn nhất bằng kỹ thuật tiên tiến. Trung ương cho ra tạp chí lý luận, lúc đầu là Học tập, sau đổi là Tạp chí Cộng sản. Nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học, tuyên truyền, lý luận, tổ chức, kỹ thuật và các tỉnh đều xuất bản báo.

Ngày 2/6/1950, Hội Nhà báo Việt Nam được thành lập đã đoàn kết rộng rãi các nhà báo trong nước.

Sau phong trào Đồng khởi, cùng với sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, báo chí cách mạng đã bước vào một giai đoạn đấu tranh mới vô cùng sôi động trên mọi mặt trận.

Báo chí tuyên truyền không khí toàn quân, toàn dân hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nghị quyết của Đảng: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”…

Trong giai đoạn này, cùng với sự phát triển của lực lượng cách mạng miền Nam và cả nước, hệ thống báo chí đã phát triển rộng khắp. Báo Giải phóng và Đài Phát thanh Giải phóng ra đời, hệ thống các phân xã của Thông tấn xã Việt Nam tại hầu hết các tỉnh miền Nam được hoàn thiện. Từ 19/5/1965, Báo Quân đội nhân dân ra hằng ngày. Cũng giai đoạn này chứng kiến sự phát triển vượt bậc của mạng lưới báo chí quân đội. Trên đất Bắc, báo chí kịp thời cổ vũ và phản ánh các nhiệm vụ phục hồi kinh tế, những điển hình trong công nghiệp, nông nghiệp tạo nên khí thế lao động sản xuất, rèn luyện, công tác trong tất cả các tầng lớp nhân dân… 

Có thể nói, Báo chí Cách mạng trong hai cuộc kháng chiến, đã làm tròn sứ mệnh và trách nhiệm của một “binh chủng thông tin” quan trọng, động viên cổ vũ tinh thần yêu nước, quyết tâm đánh thắng quân xâm lược. Những bản tin, bài báo, bức ảnh chiến trường, phóng sự thu thanh trên các phương tiện thông tin đại chúng thời kỳ này đã thực sự là “lời hịch cách mạng”, “tiếng gọi non sông” thúc giục đồng bào cả nước cùng ra trận.  Những người làm báo thực sự đã là những người chiến sĩ, vừa cầm bút, vừa cầm súng chiến đấu, kết nối triệu triệu trái tim sục sôi vì một mục tiêu duy nhất: giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau ngày thống nhất đất nước, báo chí ở nước ta đã phát triển khá nhanh về số lượng và chất lượng, hình thành hệ thống thông tấn, báo chí, phát thanh, truyền hình rộng khắp cả nước.

Từ sau Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng, báo chí như được thổi luồng không khí mới. Báo chí đã có bước tiến nhảy vọt về chất và lượng, dần trở thành một hệ thống báo chí khá toàn diện với đủ mọi loại hình báo chí cùng đội ngũ những người làm báo ngày càng  hùng hậu. Báo chí thực sự đã làm được những gì đã quyết tâm, một lần nữa thể hiện rõ được sứ mệnh và trách nhiệm cao cả, riêng có của mình: “Đổi mới báo chí vì sự nghiệp đổi mới đất nước” cũng như “Báo chí vì sự nghiệp đổi mới và hiện đại hoá đất nước”. 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, trong dịp kỷ niệm 90 năm ngày Báo chí cách mạng Việt Nam đã từng khẳng định: Những người làm báo đã là đội quân chủ lực trong việc định hướng dư luận xã hội, tuyên truyền, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

Báo chí còn tích cực tham gia giám sát, phản biện, đóng góp ý kiến xây dựng các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Báo chí góp công lớn trong việc mở rộng quan hệ đối ngoại, đưa VN đến với bạn bè thế giới; đóng góp tích cực vào việc quảng bá, giới thiệu đất nước, con người, văn hóa VN với bạn bè quốc tế, đồng thời là cầu nối quan trọng giúp bạn đọc trong nước hiểu biết nhiều hơn về tình hình khu vực và thế giới.

Giờ đây, nền Báo chí Cách mạng Việt Nam đã chạm mốc hành trình 95 năm. Hành trình ấy hẳn là rất bé nhỏ so với hành trình hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc nhưng thực sự đầy vinh quang và trách nhiệm. 

Bên thềm "tuổi mới", Báo chí Cách mạng Việt Nam, những người làm báo Việt Nam hôm nay tiếp tục nuôi trong những trái tim làm báo đầy nhiệt huyết và trách nhiệm của mình, trên hết thảy là mong ước, là sứ mệnh, là trách nhiệm góp phần hiện thực hóa khát vọng về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, văn minh, có vị thế xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.

Thế sự, thời cuộc, những biến động ngày càng tiêu cực của kinh tế báo chí, sự phát triển như vũ bão của mạng xã hội đang thử thách hơn bao giờ hết bản lĩnh của những người làm báo cách mạng.
Nhưng như nhắc nhớ của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trong lá thư gửi những người làm báo nhân kỷ niệm 95 năm ngày Báo chí cách mạng Việt Nam: Hơn lúc nào hết, đội ngũ người làm báo cần luôn trau dồi bản lĩnh, tính chuyên nghiệp, đạo đức nghề nghiệp, giữ vững giá trị cốt lõi và khẳng định sứ mệnh vẻ vang của báo chí cách mạng Việt Nam… Báo chí và các nhà báo phải thể hiện được chính nghĩa, phản ánh được “dòng chảy chính” của xã hội, của đất nước, phải “phò chính, diệt tà”. Mỗi bài viết, bản tin, hình ảnh đều phải lan tỏa những giá trị tốt đẹp và năng lượng tích cực, tạo niềm tin, sự đồng thuận trong xã hội, góp phần khơi dậy và nuôi dưỡng khát vọng về một đất nước Việt Nam hùng cường, giàu mạnh.

Xem thêm

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

(NB&CL) Khi nhiều vấn đề mới không thể giải quyết bằng những cách làm cũ, người cán bộ không chỉ cần năng lực và ý tưởng, mà còn cần một môi trường đủ tin cậy để dám quyết định, dám chịu trách nhiệm và được đánh giá công bằng. Quy định 220-QĐ/TW vì thế không chỉ đặt ra cơ chế bảo vệ người dám làm, mà còn gợi mở một yêu cầu lớn hơn, phải biết phát hiện, giao việc, trao quyền và sử dụng đúng những người có năng lực để họ thực sự tạo ra giá trị.

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

(CLO) Một cuộc họp có thể chỉ kéo dài vài giờ. Nhưng cách một cán bộ tham dự, lắng nghe và xử lý công việc sau đó lại có thể nói nhiều điều về trách nhiệm công vụ. Câu chuyện 17 Chủ tịch UBND xã ở Quảng Ngãi bị phê bình vì không nghiêm túc trong việc tham dự một hội nghị vì thế đáng để nhìn rộng hơn: Có mặt trong một cuộc họp liệu đã đồng nghĩa với có mặt trong công việc?

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

(NB&CL) Nội dung giật gân, những tập phim nối tiếp và lời mời trả phí có thể cuốn người xem vào hàng giờ giải trí, tiêu tiền ngoài dự tính. Rủi ro càng đáng quan tâm khi trẻ em tiếp cận nội dung không phù hợp độ tuổi. Phim ngắn AI đang đặt Việt Nam trước bài toán quản lý cả nội dung, nền tảng phân phối và dòng tiền. Sự phát triển của phim ngắn AI đòi hỏi cách quản lý phù hợp với tốc độ sản xuất và thói quen xem phim trên điện thoại. 

Việc triển khai cấp phát miễn phí SGK cho học sinh phổ thông toàn thành phố không chỉ khẳng định triết lý “lấy con người làm trung tâm” mà còn là bước đột phá lớn để bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Ảnh Sở GD&ĐT.

Bài 3: Lấy con người làm trung tâm - “Trái tim” của sự phát triển bền vững

(CLO) Không nằm ở những con số tăng trưởng mang tính định lượng khô khan hay các siêu dự án tỷ USD, thước đo nhân văn và sắc nét nhất cho sự bứt phá của Thành phố Quảng Ninh chính là việc định hình lại tiêu chuẩn sống, biến mỗi người dân thành trung tâm thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển.

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

(CLO) Có những buổi tối, tôi nghe tiếng phim phát ra từ điện thoại của vợ mà phát bực. Ăn cơm xong, cô ấy lại nằm xuống xem những bộ phim ngắn với những nhân vật đẹp đến mức không thật, những câu chuyện quanh đi quẩn lại chuyện phản bội, bị coi thường, lật ngược thân phận rồi trả thù. Hết một đoạn lại “Tập tiếp theo”, và cứ thế câu chuyện kéo dài đến khuya.

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Cỡ chữ bài viết: