Điều chỉnh kích thước chữ

An ninh tiền tệ cho nền độc lập

(NB&CL) Trong muôn vàn cái khó bủa vây Chính phủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) ngày đầu độc lập, ngoài cái đói, cái dốt còn cả cái nghèo, cái khó về tài chính…

Báo nói Công luận

Cũng chính bởi cái khó ấy, mà việc bảo đảm an ninh tiền tệ, bảo đảm nguồn tài chính cho không chỉ hoạt động của Chính phủ và đời sống nhân dân, mà còn trực tiếp khẳng định nền độc lập, tự chủ quốc gia, đã trở thành vấn đề hết sức bức thiết.

Thành lập ngành Tài chính

Khó có thể tưởng tượng được rằng cách đây 74 năm, Chính phủ cách mạng đã tiếp quản một nền kinh tế tài chính hầu như là con số 0, ngân quỹ Trung ương chỉ vỏn vẹn còn 1.250.000 đồng tiền Đông Dương, trong đó có tới 580.000 đồng tiền hào rách nát chờ tiêu hủy; ngân sách Đông Dương mới thi hành đến tháng 8/1945 đã thâm hụt tới 185 triệu đồng, ngoài ra còn nợ các khoản tới 564 triệu đồng Đông Dương. Thêm vào đó là việc sau gần 100 năm đô hộ, thực dân Pháp với chính sách cai trị thâm độc và vơ vét của cải, tài nguyên theo kiểu tận thu dưới mọi hình thức đã làm cho nền kinh tế tài chính của đất nước ta suy kiệt.

Trụ sở đầu tiên của Bộ Tài chính (nay là trụ sở Bộ Ngoại giao) tại số 1 phố Tôn Thất Đàm, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.

Trụ sở đầu tiên của Bộ Tài chính (nay là trụ sở Bộ Ngoại giao) tại số 1 phố Tôn Thất Đàm, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.

Nhưng một nhà nước không thể tồn tại vững chắc nếu không tạo dựng được cho mình một nền tài chính riêng, độc lập và vững chắc. Dù biết là rất khó nhưng ngay thời điểm đó, Đảng, Chính phủ cách mạng và Bác Hồ đã xác định, phải cùng đồng thời thực hiện những nhiệm vụ cấp bách và nặng nề. Một mặt phải tập trung xây dựng củng cố chính quyền cách mạng và lực lượng vũ trang nhân dân để bảo vệ và giữ vững nền độc lập tự do, vừa phải nhanh chóng khôi phục sản xuất, thực hành tiết kiệm, giải quyết hậu quả của nạn đói, nạn lũ lụt và phát động phong trào bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ..., mặc khác phải từng bước xây dựng một nền kinh tế tài chính, tiền tệ độc lập, tự chủ, đáp ứng được yêu cầu cơ bản của một nhà nước cách mạng. Ngành Tài chính Việt Nam đã ra đời trong hoàn cảnh ấy.

Ngày 28/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định thành lập Bộ Tài chính để phục vụ mọi mặt chi tiêu của Chính phủ, xây dựng và quản lý việc thu chi ngân sách, từng bước xây dựng và phát triển nền tài chính tiền tệ của nước Việt Nam độc lập. Uỷ viên Chính phủ lâm thời Phạm Văn Đồng được chỉ định làm Bộ trưởng Bộ Tài chính. Ngày 28/8 từ đó trở thành ngày truyền thống của ngành Tài chính Việt Nam.

Đồng tiền đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chính phủ lâm thời dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ đã chủ trương in và phát hành đồng tiền riêng để khẳng định chủ quyền về kinh tế, tài chính, tiền tệ của một quốc gia độc lập đồng thời phục vụ cho các nhu cầu của Chính phủ cách mạng và các nhu cầu phục vụ cho sản xuất và lưu thông hàng hóa, công cuộc kiến quốc. Sau ngày tuyên bố độc lập (2/9/1945) một tháng, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức giao nhiệm vụ cho Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng chỉ đạo việc in và phát hành tiền giấy bạc Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Bộ trưởng Tài chính Phạm Văn Đồng và sau đó là Bộ trưởng Tài chính Lê Văn Hiến, công việc in, phát hành tờ bạc Việt Nam được khẩn trương tổ chức thực hiện.

Ngày 15/11/1945, cơ quan Ấn loát thuộc Bộ Tài chính được Chính phủ cho phép thành lập với nhiệm vụ sản xuất tờ bạc Việt Nam để đưa ra lưu hành.

Tờ giấy bạc 100 đồng ra đời đại diện cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc, chủ quyền thiêng liêng của quốc gia in hình Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tờ giấy bạc 100 đồng ra đời đại diện cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc, chủ quyền thiêng liêng của quốc gia in hình Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, do hoàn cảnh thiếu thốn mọi bề lúc đó, việc để in ra được đồng bạc giấy không hề là điều dễ dàng. Đầu tiên là khâu in ấn. Do điều kiện cách mạng mới thành công, chúng ta chưa sử dụng được nhà in cũ của người Pháp nên phải mượn máy in của nhà in Quốc Hoa (phố Hàng Bông) đưa xuống ấp Thái Hà (Đống Đa) in tiền giấy. Để tăng nhanh số lượng tiền phát hành ta phải sử dụng thêm nhà in Nguyễn Ninh (phố Hàng Than); nhà in Việt Hưng (phố Cửa Nam ) và nhà in Ngô Tử Hạ (phố Lý Quốc Sư). Sau đó Bộ Tài chính quyết định điều đình để mua lại toàn bộ Nhà in Taupin của một chủ người Pháp (cửa hàng Bách hóa số 5 Nam Bộ, nay là Trung tâm thương mại) để dành riêng cho việc in tiền. Nhằm che mắt bọn phản cách mạng, nhà in được mang tên Việt Nam Quốc gia Ấn thư cục. Không chỉ là tìm nhà in, việc tìm người vận hành máy in sao cho vừa có trình độ, kỹ thuật và phải đặc biệt tin cậy cũng là một vấn đề nan giải.

Khâu vẽ mẫu tiền cũng không đơn giản, vì thời gian gấp rút, vì tính bảo mật, vì trách nhiệm lớn lao của việc vẽ ra mẫu tiền giấy đầu tiên của đất nước và cả vì việc vẽ tiền phải đòi hỏi sự chính xác cao. Bộ trưởng Phạm Văn Đồng đã cho mời một số họa sĩ nổi tiếng đương thời, chia ra làm nhiều nhóm: nhóm của họa sĩ Mai Văn Hiến vẽ mẫu giấy bạc 5 đồng; nhóm họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung vẽ mẫu giấy bạc 10 đồng; nhóm họa sĩ Nguyễn Khanh vẽ mẫu giấy bạc 20 đồng; nhóm họa sĩ Nguyễn Văn Huế vẽ mẫu giấy bạc 100 đồng... và các họa sĩ khác như Nguyễn Sáng, Bùi Trang Trước, Lê Phả... cũng tham gia vẽ mẫu tiền.

Về hình thức, thông thường mặt trước Giấy bạc Tài chính Việt Nam có quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mặt sau có ảnh về công, nông, binh, và dòng chữ “Giấy bạc Việt Nam”. Giá trị giấy bạc được ghi bằng tiếng Việt, Miên, Lào; số dùng là số Ả rập. Trên mỗi giấy bạc đều có chữ ký của Bộ trưởng Bộ Tài chính, và Giám đốc Ngân hàng Trung ương.

Công trái quốc gia.

Công trái quốc gia.

Để đảm bảo cho giấy bạc ra đời được thuận lợi và đạt được thắng lợi ngay từ đầu, phải chọn một nơi phát hành thí điểm, rồi sau đó rút kinh nghiệm và cho phát triển dần ra nơi khác. Chính phủ đã chọn miền Nam Trung bộ là nơi phát hành đầu tiên. Giấy bạc Việt Nam thay thế đồng bạc Đông Dương với giá trị tương đương 1:1. Do tiền giấy xuất hiện đầu tiên in hình Chủ tịch Hồ Chí Minh nên dân chúng thường gọi là “Giấy bạc Cụ Hồ”. Một số người gọi là “Giấy bạc Tài chính” do tiền này Bộ Tài chính phát hành.

Ngày 31/1/1946, Chính phủ cho phép phát hành Giấy bạc Việt Nam tại các địa phương từ nam vĩ tuyến 16 trở vào mà nơi thí điểm đầu tiên là thị xã Quảng Ngãi. Ngày 13/8/1946, Chính phủ cho mở rộng và phát hành Giấy bạc Tài chính Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở ra. Ở hầu khắp các tỉnh, tờ Giấy bạc Việt Nam đều được nhân dân chào đón và hoan nghênh nhiệt liệt. Khó có thể nói hết niềm vui, sự cảm động của người dân Việt khi có được đồng tiền của chính người Việt Nam làm nên có hình Bác Hồ. Đã có những câu chuyện được lưu thành giai thoại về  “Giấy bạc Cụ Hồ” như người ta sẵn sàng xẻ đôi cho nhau tờ tiền chỉ để cùng nhau có được một kỷ vật quý; giữ lại không mua bán gì mà mang đặt lên bàn thờ tổ tiên…

Đồng bạc Việt Nam.

Đồng bạc Việt Nam.

Tại kỳ họp thứ Hai, tháng 11/1946, Quốc hội khoá I đã quyết định cho phát hành rộng rãi Giấy bạc Việt Nam trong toàn quốc.

Có thể nói, việc in và phát hành tờ bạc Việt Nam có ý nghĩa chính trị, kinh tế - xã hội vô cùng to lớn, bởi từ đây đất nước ta có một đồng tiền riêng do chính chúng ta in và phát hành. Tờ bạc Việt Nam là biểu tượng cho nền độc lập, tự do, khẳng định vai trò, vị thế và chủ quyền của một quốc gia độc lập về kinh tế, tài chính tiền tệ chấm dứt thời kỳ dài lệ thuộc và bị chi phối bởi đồng tiền Đông Dương do thực dân Pháp phát hành.

Một điểm rất đặc biệt của nền tài chính ngày đầu độc lập là việc để thu bớt một phần về số tiền đã phát hành quá mức nhằm củng cố giá trị đồng tiền, hạn chế lạm phát, Chính phủ đã thực hiện chính sách vay dân bằng hình thức phát hành công trái. Nam Bộ là địa bàn được chọn để phát hành công trái đầu tiên của cả nước. Ngay từ tháng 7/1946, Chính phủ đã cho phát hành đợt công trái đầu tiên với tên gọi là Công thải. Đợt phát hành này chỉ 5 triệu đồng với lãi suất 5%/năm. Tuy số lượng tiền phát hành chưa lớn nhưng có vai trò ý nghĩa chính trị, kinh tế xã hội to lớn, mở đầu cho quá trình thực hiện chủ trương phát hành công trái của Đảng, Chính phủ nhằm tạo ra nguồn lực tài chính, phục vụ đắc lực cho công cuộc kiến quốc đi tới thắng lợi.

Thư Trang