Điều chỉnh kích thước chữ

Bản hùng ca của ý chí độc lập, tự cường

(NB&CL) Hiếm có một dân tộc nào mà suốt chiều dài lịch sử hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, lại phải liên tục chống lại các thế lực xâm lược, đô hộ để giải phóng và bảo vệ Tổ quốc như dân tộc Việt Nam.

Báo nói Công luận

Nhưng cũng chính từ lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước ấy đã sản sinh ra một văn hóa giữ nước Việt Nam, một ý chí, bản lĩnh độc lập, tự cường cho hết thảy những con người đất Việt. Bản Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời cách đây 74 năm chính là sự kết tinh của ý chí ấy, bản lĩnh ấy.

 “Hỡi đồng bào cả nước,

Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Đó là những lời đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thảo ra trong Bản Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc Việt Nam. Và “quyền tự do” đã là một trong những cụm từ trọng yếu nhất được Người đề cập và khẳng định đầu tiên trong bản Tuyên ngôn.

Với Người, “quyền tự do” của dân tộc Việt Nam là hoàn toàn trên cơ sở chân lý, là “lẽ phải không ai có thể chối cãi được”. Chân lý ấy, lẽ phải ấy không chỉ xuất phát từ thực tế nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam có quyền hưởng tự do, độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập mà còn bởi tư tưởng ấy đã được khẳng định rất rõ trong hai Bản Tuyên ngôn Độc lập của hai cường quốc Pháp, Mỹ.

Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ đã khẳng định:  Chúng tôi khẳng định những chân lý này là hiển nhiên, mọi người sinh ra đều bình đẳng, họ được tạo hóa ban cho một số quyền tất yếu bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Lễ Thượng cờ tại Quảng trường Ba Đình. Ảnh: Tô Thế

Lễ Thượng cờ tại Quảng trường Ba Đình. Ảnh: Tô Thế

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791  cũng khẳng định: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.

Và điều quan trọng, trong Tuyên ngôn Độc lập, Người nhấn mạnh, nền độc lập, tự do ấy, đã được dân tộc Việt Nam tạo dựng nên từ chính ý chí tự lực, tự cường – vốn đã trở thành truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt Nam. “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa” - Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, với cả hàng triệu người dân Việt Nam lẫn cộng đồng quốc tế, trong đó có cả những thế lực đã và sẽ vẫn ngăm nghe xâm lược, thôn tính đất nước hình chữ S- trong Bản Tuyên ngôn.

Với tri thức, bản lĩnh và trải nghiệm của một người từ tuổi đôi mươi đã lên tàu ra khơi đi tìm con đường cứu nước, Người tin và chắc chắn một điều “rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam. Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập”.

Đó  là những quyền, mà một lần nữa đúng như Người đã khẳng định trong lời đầu Bản Tuyên ngôn Độc lập: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Ai, dân tộc nào sinh ra cũng có quyền hưởng nền độc lập tự do, mà dân tộc Việt Nam, người Việt Nam- như mọi dân tộc khác trên hành tinh này, hoàn toàn có “lẽ phải” để được thụ hưởng sự độc lập, tự do của mình. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”- Người khai sinh ra nước VNDCCH khẳng định, trong văn bản pháp lý khẳng định sự ra đời của đất nước, rằng đó là “quyền” mà người Việt Nam, dân tộc Việt Nam “tự lực, tự cường giành lấy”. Và, một khi đã là quyền, thì không ai có thể chối bỏ, xâm phạm. 

Hàng nghìn năm trước, trong khói lửa binh đao của những ngày chống giặc xâm lăng, vị võ tướng lừng lẫy của nước Nam Lý Thường Kiệt, trong bài thơ thần nổi tiếng “Nam Quốc Sơn Hà” đã khẳng định: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”. Hay danh nhân Nguyễn Trãi, hơn 3 thế kỷ, khi thay lời Lê Lợi tuyên cáo với muôn dân về việc kết thúc cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược, giành lại độc lập cho nước Đại Việt, viết nên “Bình Ngô đại cáo” vào mùa xuân năm 1428, cũng đã khẳng định chủ quyền của dân tộc bằng những luận cứ khoa học và sự thật lịch sử đầy tính thuyết phục: “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu/ Núi sông bờ cõi đã chia/ Phong tục Bắc Nam cũng khác".

Và giờ đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh - con người Việt Nam đẹp nhất, là sự kết tinh của những gì ưu tú nhất Việt Nam - đã tiếp nối trọn vẹn tinh thần tự hào, tự tôn, tự cường dân tộc của cha ông ngày ấy, để rồi viết nên Bản Tuyên ngôn độc lập - làm nên bản hùng ca về ý chí độc lập, tự cường của dân tộc Việt ngày hôm nay.

Hồng Hà