'Bộ tứ trụ cột' mở ra kỷ nguyên vàng FDI, Việt Nam sẽ không còn là 'công xưởng' của thế giới
Việt Vũ•31/08/2025 07:38
(CLO) Trong cuộc trò chuyện với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận về những thay đổi ấn tượng của đất nước trong suốt tám thập kỷ vừa qua, Thạc sĩ Lê Anh Dũng, Tổng Giám đốc Viện Nghiên cứu Đầu tư Quốc tế (ISC) khẳng định: Việt Nam đã có bước chuyển mình mạnh mẽ trong thu hút FDI.
Cả nước đang rộn ràng, tưng bừng kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2025), từ lĩnh vực làm việc của mình, nhìn lại từ trước tới nay, ông thấy đâu là dấu ấn nổi bật nhất?
- Trong suốt 20 năm công tác trong lĩnh vực nghiên cứu và tư vấn đầu tư, từ những ngày đầu Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đến nay, tôi đã chứng kiến nhiều chu kỳ thăng trầm của dòng vốn FDI. Thế nhưng, tôi chưa bao giờ chứng kiến một khung chính sách nào có tính đột phá và toàn diện tại Việt Nam, như "Bộ tứ trụ cột" vừa được thông qua gần đây.
"Bộ tứ trụ cột" đó bao gồm bốn Nghị quyết quan trọng, cụ thể: Nghị quyết 57/NQ-TW năm 2024 về đột phá khoa học công nghệ và chuyển đổi số; Nghị quyết 59/NQ-TW năm 2025 về hội nhập quốc tế; Nghị quyết 66/NQ-TW năm 2025 về đổi mới thi hành pháp luật và Nghị quyết 68/NQ-TW năm 2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Bốn Nghị quyết này không chỉ là những văn bản pháp lý, mà là lộ trình cụ thể để Việt Nam "cất cánh" trong kỷ nguyên mới. Đồng thời, “Bộ tứ trụ cột” chính là tiền đề, tạo ra cuộc cách mạng thể chế, nhằm định hình lại bản đồ thu hút FDI tại Việt Nam trong giai đoạn 2025-2030.
Trong “Bộ tứ trụ cột”, ông đánh giá Nghị quyết nào sẽ có tác động rõ rệt nhất đến sự chuyển đổi vị thế của Việt Nam trong “bản đồ” thu hút FDI?
- Tôi cho rằng Nghị quyết 57/NQ-TW về khoa học công nghệ và chuyển đổi số sẽ mang lại tác động mạnh mẽ nhất. Nghị quyết này đặt mục tiêu đến năm 2045, kinh tế số Việt Nam sẽ chiếm tối thiểu 50% GDP, đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới.
Điều này có ý nghĩa rất lớn với nhà đầu tư quốc tế. Trước đây, họ đến Việt Nam chủ yếu để tìm lao động giá rẻ và chuyển giao công nghệ cũ. Nhưng nay, xu hướng toàn cầu buộc doanh nghiệp phải hướng tới phát triển bền vững, tiêu chuẩn môi trường – xã hội cao hơn. Đặc biệt, các nhà đầu tư quốc tế tới Việt Nam đang tìm kiếm những đối tác công nghệ thông minh.
Do đó, chính các tập đoàn này đang phải thích ứng, chuyển dịch từ mô hình sản xuất thâm dụng lao động sang sản xuất thông minh, tự động hóa, đồng thời hợp tác nhiều hơn với doanh nghiệp công nghệ nội địa để đảm bảo chất lượng, môi trường và thuận lợi trong xuất khẩu sang các thị trường khó tính.
Thực tế, gần đây, tôi tư vấn cho một tập đoàn công nghệ Hàn Quốc muốn đầu tư vào trung tâm dữ liệu. Họ ban đầu chỉ quan tâm đến chi phí điện và đất đai. Thế nhưng, khi tôi trình bày về kế hoạch Digital Hub 2030 của Việt Nam, họ đã quyết định tăng quy mô cho kế hoạch đầu tư từ 500 triệu USD lên 1,2 tỷ USD để xây dựng một trung tâm dữ liệu siêu lớn (Hyperscale Datacenter).
Bên cạnh đó, một trong những thay đổi quan trọng nhất mà tôi quan sát được là sự chuyển dịch mạnh mẽ sang FDI xanh. Các nhà đầu tư châu Âu, đặc biệt từ Đan Mạch và Đức, đang đổ xô đầu tư vào năng lượng tái tạo tại Việt Nam.
Đơn cử, CIP (Copenhagen Infrastructure Partners) có kế hoạch đầu tư 110 tỷ USD vào các dự án năng lượng tái tạo ở Việt Nam đến năm 2030 và hiện thực hóa trước tiên là dự án điện gió ngoài khơi La Gàn với công suất thực hiện 3,5 GW tại Bình Thuận (cũ) được triển khai thủ tục đầu tư từ năm 2019. Đây không chỉ là con số ấn tượng mà còn phản ánh niềm tin của nhà đầu tư vào cam kết Net Zero 2050 của Việt Nam.
Các nhà đầu tư châu Âu, đặc biệt từ Đan Mạch và Đức, đang đổ xô đầu tư vào năng lượng tái tạo tại Việt Nam. (Ảnh: ST)
Vậy, những Nghị quyết khác sẽ có những tác động rõ nét vào tới quá trình thu hút FDI của Việt Nam, thưa ông?
- Nghị quyết 68 sẽ thay đổi cuộc chơi thật sự, đây là văn bản mang tính chiến lược được dành cho phát triển kinh tế tư nhân, được đông đảo nhà đầu tư, các đầu tàu kinh tế của Việt nam, cũng như các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá là chính sách đúng đắn, có nhiều ý nghĩa quan trọng trong suốt những thập kỷ vừa qua, thậm chí từ năm “Đổi Mới năm 1986” trở lại đây.
Lần đầu tiên, kinh tế tư nhân được xác định là "động lực quan trọng nhất" của nền kinh tế, với mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào 2030 và 3 triệu vào 2045.
Điều này mang lại rất nhiều ý nghĩa đối với các nhà đầu tư quốc tế. Bởi vì, khi tìm kiếm thị trường đầu tư, các nhà đầu tư quốc tế không chỉ tìm kiếm ưu đãi thuế hay lao động giá rẻ.
Thực tế, họ muốn một hệ sinh thái doanh nghiệp năng động, một thị trường nội địa mạnh và chuỗi cung ứng đa dạng cái mà có thể giúp họ đa dạng hóa sản xuất, đa dạng hóa thị trường sản xuất tránh tập ở một nơi như đã từng tập trung tại Trung Quốc trong nhiều thập kỷ trước.
Ví dụ, một liên doanh Đức – Hàn trong ngành linh kiện ô tô mà tôi tư vấn đã chọn Việt Nam không chỉ vì ưu đãi thuế, mà còn bởi sự phát triển mạnh mẽ của các startup công nghệ và sức mua từ 100 triệu dân. Khi kinh tế tư nhân đủ mạnh, nó sẽ tạo ra hệ sinh thái bền vững, vừa thu hút FDI, vừa giữ chân được các tập đoàn đa quốc gia.
Thạc sĩ Lê Anh Dũng, CEO ISC.
“
"Bộ tứ trụ cột" không chỉ là những văn bản pháp lý, mà là lộ trình cụ thể để Việt Nam "cất cánh" trong kỷ nguyên mới.
Thạc sĩ Lê Anh Dũng nhấn mạnh.
Với bức tranh toàn cảnh đó, ông dự báo dòng vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn 2025-2030 sẽ phát triển như thế nào?
- Tôi tin rằng chúng ta đang bước vào kỷ nguyên vàng của FDI. Báo cáo của Bain & Company 2025 đã dự báo việc đầu tư vào Việt Nam có thể tăng 83% trong giai đoạn 2025-2030.
Với cuộc chuyển mình lịch sử, với xu hướng dịch chuyển FDI mới và niềm tin từ các nhà đầu tư tăng lên, tôi dự báo: Trong giai đoạn 2025 - 2027 sẽ là thời điểm tăng tốc đột phá. Vốn FDI đăng ký có thể đạt 45-50 tỷ USD/năm, tăng 20-25% so với hiện tại.
Vốn FDI thực hiện có thể đạt 30-35 tỷ USD/năm. Trọng tâm của FDI sẽ là Trung tâm dữ liệu lớn, năng lượng tái tạo, sản xuất bán dẫn và điện tử.
Bước sang giai đoạn 2028-2030, dòng vốn FDI “đổ” vào Việt Nam sẽ bứt phá vượt trội. Giai đoạn này, tôi cho rằng, vốn FDI đăng ký có thể đạt 55-65 tỷ USD/năm, vốn FDI thực hiện có thể đạt 40-50 tỷ USD/năm. Trọng tâm của dòng vốn FDI trong giai đoạn này sẽ là trung tâm AI, hydrogen xanh, công nghệ sinh học.
Theo ông, đâu sẽ là những ngành “hot” thu hút dòng vốn FDI lớn nhất trong giai đoạn 2025-2030?
Tôi cho rằng sẽ có 4 lĩnh vực “hot” mà Việt Nam có cơ hội thu hút dòng vốn FDI, bao gồm: Trung tâm dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI), năng lượng xanh, công nghệ cao và bán dẫn, hạ tầng truyền dẫn và kết nối quốc tế.
Đầu tiên cần phải nhắc đến đó là Trung tâm dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Như tôi đã nói trước đó, Việt Nam đặt rất nhiều kỳ vọng vào mục tiêu Digital Hub vào năm 2030.
Định hướng của Digital Hub 2030 được thể hiện tại Quyết định số 36/QĐ-TTg năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông thời kỳ 2021-2030.
Đây sẽ là tiền đề thu hút hàng chục tỷ USD đầu tư vào hạ tầng tính toán đám mây (Cloud Computing), AI thông qua việc đầu tư các dự án trung tâm dữ liệu trung chuyển quốc tế.
Trong nước, Viettel đã cam kết 40.000 tỷ đồng, VNPT cũng không kém cạnh. Tôi kỳ vọng sẽ có ít nhất 3 - 5 trung tâm dữ liệu siêu lớn (hyperscale datacenters) từ Big Techs (Google, Amazon, Facebook (Meta), Apple và Microsoft – viết tắt là nhóm GAFAM) toàn cầu được xây dựng tại Việt Nam trong thời gian 05 năm tới.
Thứ hai là năng lượng xanh. Với cam kết Net Zero 2050, Việt Nam sẽ cần 500 - 600 tỷ USD đầu tư vào năng lượng sạch. Tôi đặc biệt lạc quan về điện gió ngoài khơi, lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế tự nhiên vượt trội.
Thứ ba đó là công nghệ cao và bán dẫn. Thỏa thuận với NVIDIA chỉ là khởi đầu. Tôi tin rằng Việt Nam sẽ thu hút được ít nhất 10 - 15 dự án lớn trong lĩnh vực đóng gói sản phẩm bán dẫn (semiconductor packaging) và kiểm thử sản phẩm bán dẫn (testing).
Công nghệ bán dẫn sẽ là một trong những lĩnh vực "hot" trong quá trình thu hút FDI của Việt Nam. (Ảnh: CP)
Cuối cùng là hạ tầng truyền dẫn và Kết nối quốc tế. Internet và truyền dẫn Internet thì trong 30 năm qua đã phát triển rất nhanh và rất mạnh, hiện nay nó giống như “cơm ăn áo mặc hàng ngày”. Tuy nhiên, hạ tầng Internet quốc tế của Việt Nam vẫn còn đang rất hạn chế.
Điển hình là đầu năm 2024, toàn bộ các tuyến cáp quang biển kết nối đi quốc tế của Việt Nam đều đồng loạt bị tê liệt do sự cố, dẫn đến kết nối đi quốc tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Dù Viettel, VNPT, FPT đã đầu tư mạnh, nhưng so với nhu cầu chuyển đổi số, AI và hội nhập quốc tế, Việt Nam cần một hệ thống truyền dẫn có độ trễ chỉ tính bằng mili giây. Đây không chỉ là thách thức sống còn mà còn là cơ hội lớn để thu hút các tập đoàn viễn thông và công nghệ toàn cầu.
Theo ông, đâu là những thách thức lớn nhất mà Việt Nam phải đối mặt trong quá trình thu hút FDI thế hệ mới?
Tôi thấy có ba thách thức chính, một là hiện nay dòng vốn FDI đang bị cạnh tranh gay gắt. Việt Nam không còn là "miền đất hứa" duy nhất. Ấn Độ, Bangladesh, Mexico đều đang cạnh tranh quyết liệt. Do đó, Việt Nam cần liên tục cải thiện năng lực cạnh tranh dòng vốn FDI thế hệ mới.
Tiếp đến là thiếu hụt nhân lực chất lượng cao. Dù lực lượng lao động rất dồi dào, nhưng vẫn thiếu kỹ sư và kỹ thuật viên đạt chuẩn quốc tế, đặc biệt trong các ngành công nghệ cao.
Cuối cùng là hạ tầng cần nâng cấp. Hệ thống điện lưới, logistics và đặc biệt là hạ tầng số cần được đầu tư mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu của các dự án thế hệ mới.
“
Sau 20 năm trong ngành, tôi tin rằng Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên vàng của FDI. "Bộ tứ trụ cột" không chỉ là khẩu hiệu mà là bản đồ kế hoạch cụ thể, khả thi và tràn đầy khát vọng chuyển mình. Việt Nam 2030 sẽ không còn là "công xưởng thế giới" mà là "trung tâm đổi mới sáng tạo” mới của châu Á.
Đây không chỉ là dự báo của một chuyên gia tư vấn, mà là niềm tin sâu sắc dựa trên 20 năm kinh nghiệm và những gì tôi đang chứng kiến mỗi ngày trong công việc của mình
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.