Điều chỉnh kích thước chữ
“Nóng” quy định tăng làm thêm, giảm giờ làm cho người lao động:

Cần sự cân bằng lợi ích từ cả hai phía DN và NLĐ

(NB&CL) Trong bối cảnh hiện nay, việc làm thêm giờ của công nhân là một nhu cầu thực tế cần chấp nhận. Song cần cân đối hài hòa để NLĐ có thể đảm bảo cuộc sống bằng thu nhập của chính mình, vừa có thời gian cho những nhu cầu cũng như những nhiệm vụ khác để họ có cuộc sống thực sự để “sống”.

Báo nói Công luận

Sáng 14/8, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nghe báo cáo và cho ý kiến về dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi). Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Về các vấn đề xã hội nhận định, việc kéo dài thời giờ làm thêm là đi ngược lại với xu hướng tiến bộ; việc tăng thời giờ làm thêm trong điều kiện công tác thanh tra, kiểm tra, chế tài xử lý vi phạm còn hạn chế sẽ có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp lợi dụng thời giờ làm thêm khai thác sức lao động, người lao động sẽ cạn kiệt sức lao động sớm hơn so với tuổi lao động. Trước đó, Bộ luật Lao động (sửa đổi) có một số quy định liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động (NLĐ). Trong đó, đề xuất giảm giờ làm từ 48 giờ/tuần xuống 44 giờ/tuần đã nhận được nhiều phản hồi từ doanh nghiệp.

Chưa phải thời điểm!

Theo ông Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), đề xuất này nhằm cải thiện điều kiện cho NLĐ, tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề được kiến nghị vì cho rằng đề xuất gây cản trở, khó khăn cho DN. Điều chỉnh giờ làm ngày thường từ 48 giờ/tuần xuống 44 giờ/tuần, thì một năm sẽ giảm tới 220 giờ, điều này không hợp lý với DN.

Tăng giờ làm thêm nhưng cần phải đảm bảo quyền lợi của người lao động.

Tăng giờ làm thêm nhưng cần phải đảm bảo quyền lợi của người lao động.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, xã hội càng hiện đại, nước càng giàu thì thời giờ làm việc càng ngắn, nước càng nghèo thì thời giờ làm việc càng dài; nước có năng suất lao động càng cao thì số giờ làm việc của NLĐ càng thấp, năng suất càng thấp thì số giờ làm việc của NLĐ càng cao; số giờ làm việc của NLĐ cao hay thấp phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố kinh tế, xã hội, bên cạnh các yếu tố khác như sức khỏe, điều kiện lao động, môi trường...

Nếu sửa đổi giờ làm việc xuống còn 44 giờ/tuần thì giờ làm thêm sẽ tăng lên và tính lương theo lũy tiến thì sẽ là gánh nặng thêm cho DN. Muốn sử dụng lao động làm việc bình thường như cũ thì DN sẽ phải trả mỗi tuần 4 giờ làm thêm, đây là gánh nặng chi phí rất lớn cho DN nội, khi có tới 98% là DN vừa và nhỏ hoặc siêu nhỏ có năng lực hạn chế, rất khó cạnh tranh với các DN nước ngoài có tiềm lực kinh tế mạnh.

Việc giảm giờ làm cũng sẽ thách thức khả năng tích lũy và tồn tại cũng như phát triển tương lai của DN nội, chưa kể đến khả năng bị cạnh tranh các đơn hàng xuất khẩu với các nước khác đang có lợi thế hơn về giá nhân công lao động.

Việt Nam với thu nhập bình quân đầu người ở mức trung bình thấp (2.340 USD vào năm 2017 theo số liệu của World Bank), năng suất lao động còn ở mức thấp, tỷ trọng các ngành thâm dụng lao động có giá trị gia tăng thấp vẫn còn lớn (các ngành sản xuất gia công, lắp ráp linh kiện điện tử, dệt may, thủy sản, da giày, chế biến gỗ…) thì nhu cầu mở rộng khung thỏa thuận làm thêm giờ là có thực để góp phần tăng thu nhập, thúc đẩy sản xuất kinh doanh.

Theo các chuyên gia, đây là giải pháp nhằm rút ngắn khoảng cách về thời gian làm việc đang có sự bất bình đẳng giữa NLĐ ở khu vực công và khu vực DN. Tuy nhiên, giải pháp nào thì cũng cần sự cân bằng lợi ích từ cả hai phía DN và NLĐ. 

cong-nhan

Đừng để người lao động thiệt thòi

Phải thừa nhận rằng hiện nay năng suất lao động của người Việt Nam rất thấp so với khu vực và thế giới. Theo số liệu thống kê của Tổ chức Năng suất châu Á, năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn hai lần so với năng suất bình quân khu vực Cộng đồng kinh tế ASEAN. Còn theo nghiên cứu của ILO, năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp nhất châu Á - Thái Bình Dương, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và Hàn Quốc 10 lần.

Tuy nhiên, điều này không phải hoàn toàn do lỗi của người lao động mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố như môi trường làm việc, trang thiết bị máy móc của doanh nghiệp. Tăng năng suất lao động không phải bằng cách kéo dài thời gian làm việc mà phải thông qua việc cải tiến công nghệ, quy trình sản xuất và đưa thiết bị hiện đại, đào tạo nguồn nhân lực. Nếu chỉ đáp ứng nguyện vọng một phía cho doanh nghiệp thì sẽ thiệt thòi cho người lao động.

Trên thực tế, xu hướng giảm giờ làm là xu hướng tiến bộ của loài người trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất, đảm bảo tăng năng suất lao động, phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp nhưng duy trì được sức khỏe, khả năng tái tạo sức lao động cũng như có thời gian chăm sóc sức khỏe gia đình của người lao động. Tình trạng làm việc theo tính chất dây chuyền hiện nay khiến nhiều lao động không chịu đựng nổi, dẫn đến suy kiệt sức khỏe, chưa kể khả năng dinh dưỡng cho người lao động còn đang bị hạn chế. Thời giờ làm thêm phải tính toán sao để đảm bảo sức khỏe cho người lao động trong hoàn cảnh tố chất thể lực của người Việt không cao, môi trường làm việc lại chưa phải là tốt.

Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cho thấy khả năng xảy ra tai nạn lao động trong thời gian làm thêm giờ cao hơn rất nhiều so với thời gian làm việc chính thức. Vì thế phải cân nhắc, cân đối để vừa giải quyết được những khó khăn của doanh nghiệp, nhưng vừa đảm bảo được quyền lợi cũng như sức khỏe của người lao động.

Những giờ làm việc kéo dài sẽ giảm chất lượng cuộc sống của bản thân người lao động, do mâu thuẫn giữa thời gian dành cho gia đình, thời gian dành cho nhiệm vụ và các nhu cầu khác ngoài công việc, thật khó để có thể sắp xếp một cuộc sống trọn vẹn trong khi quỹ thời gian dành cho công việc quá nhiều.

Trong bối cảnh hiện nay, việc làm thêm giờ của công nhân là một nhu cầu thực tế cần chấp nhận. Song cần cân đối hài hòa để người lao động có thể đảm bảo cuộc sống bằng thu nhập của chính mình, vừa có thời gian cho những nhu cầu cũng như những nhiệm vụ khác, làm sao để họ có cuộc sống thực sự để “sống”.

Báo cáo thẩm tra của Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Nguyễn Thúy Anh cho biết, liên quan đến việc mở rộng khung thỏa thuận về giờ làm thêm tối đa lên 400 giờ/năm (tăng 100 giờ so với quy định hiện hành) Ủy ban cho rằng, trên thực tế, nhu cầu làm thêm giờ là có thật; từ phía người lao động bản chất là do tiền lương và thu nhập chưa bảo đảm trang trải cuộc sống; từ phía người sử dụng lao động là do nhu cầu sản xuất, kinh doanh và tùy theo từng thời điểm. Tuy nhiên, việc kéo dài thời giờ làm thêm là đi ngược lại với xu hướng tiến bộ; việc tăng thời giờ làm thêm trong điều kiện công tác thanh tra, kiểm tra, chế tài xử lý vi phạm còn hạn chế sẽ có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp lợi dụng thời giờ làm thêm khai thác sức lao động, dẫn đến hậu quả người lao động sẽ cạn kiệt sức lao động sớm hơn so với tuổi lao động.

Ủy ban đề nghị, vấn đề này cần được Cơ quan soạn thảo tiếp tục làm rõ thêm và việc quy định thời gian làm thêm giờ phải theo hướng đảm bảo chặt chẽ, giới hạn trong một số trường hợp đối với một số ngành, nghề, công việc nhất định và phải bảo đảm các nguyên tắc như: phải có sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động; áp dụng tiền lương lũy tiến cho thời gian làm thêm giờ; bổ sung quy định khống chế giờ làm thêm tối đa theo tháng và có cơ chế kiểm tra, thanh tra, giám sát.

Khánh An