Công nghiệp điện tử Việt Nam: Bây giờ hoặc không bao giờ?

(NB&CL) Việt Nam có ngành công nghiệp điện tử, thậm chí được ghi nhận là “quốc gia xuất khẩu điện tử lớn thứ 12 thế giới”. Nhưng ít ai biết doanh nghiệp điện tử Việt suốt hơn 20 năm qua cơ bản “sống mòn”, cho đến khi Mobiistar rút khỏi Ấn Độ, hay lùm xùm “Made in Vietnam” liên quan tới Asanzo được “kích hoạt”.

1. Đầu tháng 7/2019, thông tin chiếc điện thoại thương hiệu Việt Mobiistar rút lui khỏi Ấn Độ sau hơn một năm gia nhập đã khiến không ít người yêu, quan tâm tới công nghệ tiếc nuối.

Nguyên nhân đơn giản là: Mobiistar India tại Ấn Độ là doanh nghiệp nhận nhượng quyền kinh doanh thương hiệu điện thoại Mobiistar từ Mobiistar Việt Nam. Tuy nhiên, Mobiistar India lại được đầu tư bởi Công ty Vsun (Trung Quốc), phía doanh nghiệp Việt Nam đóng góp thương hiệu, kinh nghiệm thị trường, cùng với đó CEO Ngô Nguyên Kha là đồng sáng lập kiêm CEO. Khi Vsun bị mất thanh khoản và nộp đơn xin phá sản tại Trung Quốc, không thể tiếp tục hậu thuẫn tài chính cho Mobiistar India thì việc đàm phán với một số nhà đầu tư để gây vốn cho Mobiistar India dường như không tiến triển tốt.

Công nghiệp điện tử Việt Nam lúc này rất cần hỗ trợ để vượt thoát, hoặc không bao giờ!

Công nghiệp điện tử Việt Nam lúc này rất cần hỗ trợ để vượt thoát, hoặc không bao giờ!

Tiếc nuối, là bởi Mobiistar là doanh nghiệp điện tử Việt hiếm hoi thực hiện khát vọng “vươn ra biển lớn”. Tiếc nuối, là bởi Mobiistar sau 10 năm thành lập đã có được chỗ đứng tại thị trường nội địa, trong bối cảnh nhiều hãng điện thoại Việt thành lập rồi chết yểu. Thậm chí có thời điểm, Mobiistar liên tục nằm trong top 5 các hãng smartphone lớn tại thị trường Việt, với thị phần luôn ổn định ở mức trên dưới 5%, chỉ đứng sau Apple.

Rút khỏi Ấn Độ, Mobiistar sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức tại thị trường trong nước, phải cạnh tranh với hàng loạt thương hiệu điện thoại đến từ Trung Quốc vốn rất giàu tiềm lực.

Điện thoại thương hiệu Việt lại tiếp tục như con thuyền không bến!?

Tivi Asanzo chiếm thị phần lớn hướng tới nhóm khách hàng phổ thông.

Tivi Asanzo chiếm thị phần lớn hướng tới nhóm khách hàng phổ thông.

2. Sau khi Mobiistar, tới lượt Asanzo nổi lên như một “hiện tượng lạ”, khi chỉ mất 5 năm (từ 2013) để chiếm 16% thị phần, đứng top 4 thị trường điện tử Việt Nam vốn chật cứng các thương hiệu ngoại lừng lẫy.

“Asanzo sẽ phải là một tập đoàn điện tử đa ngành hàng đầu Việt Nam, gồm 5 lĩnh vực tivi, điện lạnh, điện gia dụng, smartphone và các mặt hàng như laptop, máy tính bảng...”,  ông Tam chia sẻ về đích đến của Asanzo.

Tuy nhiên, kế hoạch nói trên của Asanzo đã bị “khựng” lại sau khi Báo Tuổi Trẻ đăng loạt bài nêu việc Asanzo sử dụng linh kiện Trung Quốc, xé nhãn “Made in China” và dán nhãn “Xuất xứ Việt Nam” lên sản phẩm. Sự việc không chỉ là lời cảnh tỉnh cho Asanzo, mà còn cho hàng loạt sản phẩm thương hiệu Việt nhưng ruột “hiệp chủng quốc” khác.

Cũng cần nhớ rằng, suốt hàng chục năm qua, các doanh nghiệp điện tử Việt Nam gần như sản phẩm gì cũng làm, nhưng rốt cuộc không làm ra sản phẩm gì. Công nghiệp phụ trợ không đáp ứng được nhu cầu lắp ráp trong nước nên dễ hiểu khi chúng ta không có sản phẩm “Made in Vietnam” đúng nghĩa.

3. Thế nào là “Made in Vietnam” tiếp tục gây tranh cãi. Trang công nghệ ICTnews đã sử dụng biểu đồ “Đường cong nụ cười” của Stan Shih (nhà sáng lập Tập đoàn Acer) để lý giải những chia rẽ của người dùng.

Theo đó, trong ngành công nghiệp điện tử, toàn bộ khâu sản xuất có thể chia vào 3 giai đoạn lớn: Nghiên cứu và thiết kế sản phẩm (nghiên cứu phát triển, thiết kế, chuẩn hoá - cần nhiều chất xám, mang lại giá trị lớn. Những doanh nghiệp này gọi là ODM); Chế tạo sản phẩm (gia công và lắp ráp - cần nhiều công sức, mang lại giá trị thấp. Những doanh nghiệp này gọi là OEM); Bán hàng và dịch vụ hậu mãi (marketing, bán hàng, thương hiệu, dịch vụ hậu mãi - cũng cần nhiều chất xám, mang lại giá trị lớn. Những doanh nghiệp này gọi là OBM).

Theo biểu đồ của Stan Shih, thì càng đi xuống đáy, phần giá trị gia tăng càng thấp. Bất kỳ quốc gia, công ty nào cũng muốn chiếm lĩnh những công đoạn phía trên của “Đường cong nụ cười” - giá trị chất xám. Còn ở dưới, chỉ là “bán mồ hôi”. Đó cũng là ý nghĩa của chuỗi giá trị toàn cầu.

Doanh nghiệp điện tử Việt ở đâu trên trên biểu đồ “Đường cong nụ cười”?

Có thể thấy việc một số sản phẩm điện tử thương hiệu Việt (lắp ráp từ linh kiện hoặc nhập nguyên chiếc), ở một góc nhìn nào đó, đây là một điểm sáng. Bởi dù không trực tiếp nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, thì khâu làm thương hiệu, phân phối, bán hàng và hậu mãi chắc chắn đòi hỏi nhiều chất xám và mang lại giá trị hơn khâu chế tạo.

Cần nhớ rằng, hơn 20 năm đã qua, dù doanh nghiệp điện tử Việt Nam hầu hết chết lâm sàng, thì chúng ta vẫn là quốc gia xuất khẩu điện tử lớn thứ 12 thế giới. Thành quả đó là nhờ chính sách khuyến khích đầu tư FDI, nhưng phần lớn giá trị xuất khẩu đều nằm trong tay khu vực FDI (95%), tỷ lệ cung ứng linh kiện từ doanh nghiệp nội địa rất thấp.

Thực tế trên quả thật đau xót nếu nhìn sang các nước châu Á, cách họ kiên trì “nội địa hóa” ngành công nghiệp điện tử. Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới thứ 2 đã tập trung nghiên cứu, học hỏi những tiến bộ công nghệ thế giới để phát triển thương hiệu nội địa, trở thành cường quốc về điện tử với Sony, Toshiba, Panasonic…, Hàn Quốc sau đó cũng có bước đi y hệt, tạo nên những hương hiệu hàng đầu thế giới như Samsung, LG…, Trung Quốc chịu trở thành “đại công trường của thế giới”, và giờ họ có những “gã khổng lồ”.

Việt Nam, hoặc là chọn làm “đại công trường”, phát triển công nghiệp phụ trợ. Hoặc là hỗ trợ tối đa cho những Asanzo, Sunhouse, Kangaroo…, vốn đang có chỗ đứng trên thị trường, hay VinSmart giàu tham vọng.

Khi Asanzo tính tới xây dựng nhà máy, VinSmart tâm huyết đeo đuổi phát triển hệ sinh thái các sản phẩm điện tử, công nghệ thông minh ứng dụng trí tuệ nhân tạo…, thì công nghiệp điện tử Việt Nam lúc này rất cần hỗ trợ để vượt thoát, hoặc không bao giờ!

An Nhiên

Xem thêm

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

(NB&CL) Nội dung giật gân, những tập phim nối tiếp và lời mời trả phí có thể cuốn người xem vào hàng giờ giải trí, tiêu tiền ngoài dự tính. Rủi ro càng đáng quan tâm khi trẻ em tiếp cận nội dung không phù hợp độ tuổi. Phim ngắn AI đang đặt Việt Nam trước bài toán quản lý cả nội dung, nền tảng phân phối và dòng tiền. Sự phát triển của phim ngắn AI đòi hỏi cách quản lý phù hợp với tốc độ sản xuất và thói quen xem phim trên điện thoại. 

Việc triển khai cấp phát miễn phí SGK cho học sinh phổ thông toàn thành phố không chỉ khẳng định triết lý “lấy con người làm trung tâm” mà còn là bước đột phá lớn để bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Ảnh Sở GD&ĐT.

Bài 3: Lấy con người làm trung tâm - “Trái tim” của sự phát triển bền vững

(CLO) Không nằm ở những con số tăng trưởng mang tính định lượng khô khan hay các siêu dự án tỷ USD, thước đo nhân văn và sắc nét nhất cho sự bứt phá của Thành phố Quảng Ninh chính là việc định hình lại tiêu chuẩn sống, biến mỗi người dân thành trung tâm thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển.

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

(CLO) Có những buổi tối, tôi nghe tiếng phim phát ra từ điện thoại của vợ mà phát bực. Ăn cơm xong, cô ấy lại nằm xuống xem những bộ phim ngắn với những nhân vật đẹp đến mức không thật, những câu chuyện quanh đi quẩn lại chuyện phản bội, bị coi thường, lật ngược thân phận rồi trả thù. Hết một đoạn lại “Tập tiếp theo”, và cứ thế câu chuyện kéo dài đến khuya.

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Cỡ chữ bài viết: