Điều chỉnh kích thước chữ

Đề xuất lùi thời gian thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và tài nguyên nước

(CLO) Chính phủ đề nghị Quốc hội cho phép lùi thời gian thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được thực hiện kể từ ngày 1/1/2014, thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước được thực hiện kể từ ngày 1/9/2017.

Báo nói Công luận
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà trình bày Tờ trình về việc đề nghị Quốc hội cho lùi thời gian thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và khai thác tài nguyên nước. Ảnh: ĐBND

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà trình bày Tờ trình về việc đề nghị Quốc hội cho lùi thời gian thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và khai thác tài nguyên nước. Ảnh: ĐBND

Trình bày Tờ trình về việc đề nghị Quốc hội cho lùi thời gian thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và khai thác tài nguyên nước, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà nêu rõ, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước là chính sách lần đầu tiên được quy định trong Luật Khoáng sản năm 2010 và Luật Tài nguyên nước năm 2012.

Bên cạnh thuế tài nguyên đã thu từ nhiều năm trước, đây là một khoản thu thêm nhằm mục đích yêu cầu tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước nâng cao trách nhiệm trong việc khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả, tránh lãng phí tài nguyên.

Để triển khai thi hành Luật Khoáng sản, Luật Tài nguyên nước, Chính phủ được giao xây dựng, ban hành Nghị định hướng dẫn phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

Theo đó, ngày 28/11/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 203/2013/NĐ-CP quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, có hiệu lực từ ngày 20/1/2014, chậm 2 năm 6 tháng kể từ ngày Luật Khoáng sản có hiệu lực thi hành; ngày 17/7/ 2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 82/2017/NĐ-CP quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, có hiệu lực từ ngày 1/9/2017, chậm 4 năm 8 tháng kể từ ngày Luật tài nguyên nước có hiệu lực thi hành.

Theo Bộ trưởng Trần Hồng Hà, việc ban hành chậm các Nghị định nêu trên là do trong quá trình xây dựng các Luật, Chính phủ, cơ quan chủ trì soạn thảo đã không lường trước được hết những khó khăn, phức tạp, nhất là các vấn đề liên quan đến kinh tế, các thông số kỹ thuật phức tạp như đối với tài nguyên khoáng sản, các thông số tính tiền là trữ lượng và chất lượng của từng mỏ, từng loại khoáng sản.

Đối với tài nguyên nước, Luật quy định chỉ tính tiền đối với một số hoạt động khai thác tài nguyên nước có lợi thế như: thủy điện, khai thác nước để cấp cho một số hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ... không tính tiền đối với nước tưới cho nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt của nhân dân.

Do các thông số tính tiền là chất lượng của nguồn nước, thông số để tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản phức tạp, nên cần có nhiều thời gian để hoàn thiện phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; đồng thời phải tính toán kỹ lưỡng các phương án để lựa chọn phương án có tính khả thi khi thực hiện chính sách.

Bộ trưởng Trần Hồng Hà cũng thẳng thắn cho rằng, việc ban hành chậm các Nghị định cũng xuất phát từ nguyên nhân chủ quan của cơ quan chủ trì soạn thảo chưa chủ động, chưa kịp thời báo cáo, đề xuất để tháo gỡ khi gặp khó khăn, vướng mắc. Việc nhận thức về thẩm quyền quyết định thời hạn áp dụng việc thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước chưa đầy đủ, nên Chính phủ, cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm định chưa kịp thời trình Quốc hội để xem xét, quyết định thời điểm tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

Bên cạnh đó là khó khăn trong thực hiện hồi tố truy thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho biết, sau khi các Nghị định nêu trên có hiệu lực, nếu tính tiền cấp quyền cho giai đoạn trước (từ ngày 1/7/2011 đến ngày 20/1/2014, đối với khai thác khoáng sản và từ ngày 1/1/2013 đến ngày 31/8/2017, đối với khai thác tài nguyên nước) thì dự tính số tiền khoảng gần 5.000 tỷ đồng.

Với những khó khăn, vướng mắc nêu trên, đồng thời để phản ánh đúng tình hình ngân sách Nhà nước, thực hiện kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đề nghị Quốc hội cho phép lùi thời gian thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được thực hiện kể từ ngày 1/1/2014, thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước được thực hiện kể từ ngày 1/9/2017.

Trình bày Báo cáo thẩm tra về nội dung này, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh đề nghị, Chính phủ lý giải rõ hơn tại sao Nghị định 203 có hiệu lực ngày 20/1/2014 mà lại quy định thời hạn thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản từ ngày 1/1/2014.

Ủy ban Kinh tế cũng kiến nghị, Quốc hội yêu cầu Chính phủ kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân trong việc chậm ban hành hai Nghị định hướng dẫn về thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định tại Điều 7 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và báo cáo Quốc hội tại Kỳ họp sau.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh nhấn mạnh, việc không thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước (từ 1/7/2011 đến 31/12/2013 đối với khoáng sản và từ 1/1/2013 đến 31/8/2017 đối với tài nguyên nước) là một trong các vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội do Quốc hội quyết định.

Do đó, Ủy ban Kinh tế tán thành với đề xuất của Chính phủ đề nghị Quốc hội đưa nội dung cho phép lùi thời gian thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước vào Nghị quyết kỳ họp, tương tự như việc Quốc hội quyết định các vấn đề có liên quan đến các khoản thu, nhiệm vụ chi hay bổ sung dự toán ngân sách.

T.Toàn