Giá nhôm chạm mức cao nhất 13 năm trong bối cảnh thiếu điện ở Trung Quốc

(CLO) Chi phí vận chuyển hàng hóa tăng do các hạn chế nhập cảnh COVID đẩy chi phí hàng hóa lên cao hơn.

Giá nhôm đang dao động ở mức cao nhất trong 13 năm khi Trung Quốc, nhà sản xuất kim loại cơ bản lớn nhất thế giới, bắt đầu thắt dần sản xuất để đáp ứng mục tiêu phát thải carbon trong bối cảnh nguồn cung điện bị thắt chặt và chi phí vận chuyển hàng hóa cao.

gia nhom cham muc cao nhat 13 nam trong boi canh thieu dien o trung quoc hinh 1

Nhu cầu nhôm dự kiến sẽ tăng lại. Ảnh: Getty Images.

Nhôm được giao dịch ở mức khoảng 2.827 đô la/tấn trên Sàn giao dịch kim loại London vào thứ Ba, tăng 43% so với đầu năm, sau khi chạm mức cao nhất trong 13 năm là 2.916 đô la vào ngày 10 tháng 9. Năm ngoái, vào đầu đại dịch, nhôm chạm mức thấp nhất trong 5 năm là 1.429 USD/tấn.

Nhôm được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày - từ các bộ phận xe hơi, hộp thiếc được sử dụng cho thực phẩm và đồ uống, đến các bộ phận điện. Việc toàn cầu thúc đẩy quá trình khử cacbon trong ngắn hạn sẽ dẫn đến giá hàng hóa tăng vọt, khi các nhà sản xuất tìm kiếm những cách thay thế xanh hơn để tạo ra năng lượng cần thiết cho sản xuất.

Khi các nền kinh tế chậm phục hồi sau cú sốc COVID năm ngoái, nhu cầu nhôm đang tăng trở lại, đặc biệt là từ Trung Quốc, chiếm 60% tiêu thụ toàn cầu.

Tuy nhiên, sản lượng từ Trung Quốc đã bị ảnh hưởng bởi hạn hán và giá than nhiệt tăng cao, do các nhà máy thủy điện và nhiệt điện đang gặp khó khăn trong việc tăng sản lượng điện, do mục tiêu giảm phát thải của Chủ tịch Tập Cận Bình. Ông Tập nói rằng ông hy vọng lượng khí thải của Trung Quốc sẽ đạt mức cao nhất trước năm 2030 và có xu hướng giảm cho đến khi nước này đạt được mức độ trung tính carbon vào năm 2060.

Sản xuất nhôm, chiếm khoảng 4% tổng lượng khí thải carbon của Trung Quốc, là một trong những ngành công nghiệp, cùng với thép và xi măng, dự kiến sẽ phải kiềm chế để giảm lượng khí thải. Bắc Kinh cho biết họ muốn giới hạn công suất nấu chảy hàng năm của ngành và các nhà sản xuất để giảm lượng khí thải, đồng thời chuyển sang sản xuất nhôm thứ cấp hoặc tái chế.

Một trong những thách thức mà ngành phải đối mặt là giá năng lượng ngày càng tăng. Trước đây, các nhà máy luyện nhôm chuyển đến tỉnh Vân Nam, nơi có các nhà máy thủy điện, được trả một mức giá gọi là ưu đãi cho điện năng nhưng hiện nay, chính phủ đang cố gắng ngừng thu hút quá nhiều nhà máy luyện đến tỉnh này và ngày càng có ít lò luyện được hưởng lợi từ việc chi phí điện năng thấp. Các công ty tiêu thụ điện năng lớn khác như các nhà sản xuất silicon và magiê cũng đang mở rộng, làm tăng thêm nguy cơ mất điện.

Uday Patel, một nhà phân tích của Wood Mackenzie cho biết: “Tác động của điều này tất nhiên sẽ là tăng chi phí sản xuất cho các lò luyện và sẽ tăng thêm giá”.

Một cuộc đảo chính đã xảy ra ở Guinea vào ngày 5 tháng 9 là một yếu tố tăng giá khác đối với giá nhôm. Quốc gia Tây Phi là nơi có trữ lượng bô-xít lớn nhất thế giới và là nhà cung cấp bô-xít chính cho Trung Quốc.

Nhu cầu nhôm toàn cầu dự kiến sẽ tăng dần theo nhu cầu “xanh”. Các nhà sản xuất ô tô sẽ sử dụng nhiều nhôm hơn để chế tạo ô tô nhẹ hơn nhằm tiết kiệm nhiên liệu hơn, trong khi sẽ cần nhiều dây điện bằng nhôm hơn để xây dựng các trạm năng lượng gió ngoài khơi.

Patel nói: “Một mặt, vấn đề là ngành công nghiệp nhôm không phải lúc nào cũng “xanh”, mặt khác, bạn cần nhôm để khử cacbon cho nền kinh tế của mình”.

Trong bối cảnh giá cả tăng mạnh gần đây, một thương nhân cho biết người mua Nhật Bản và các nhà sản xuất Úc đang thảo luận về mức phí bảo hiểm khoảng 230 USD / tấn nhôm, mức cao nhất trong vòng 6 đến 7 năm qua, cho quý 10-12. Các cuộc đàm phán như vậy giữa người bán và người mua diễn ra hàng quý.

Nhà kinh doanh cho biết người mua ở châu Âu và Mỹ đang phải đối mặt với mức phí bảo hiểm thậm chí còn cao hơn để nhận nhôm giao cho họ từ Malaysia hoặc Singapore.

Điều này một phần lớn là do giá vận chuyển hàng hóa tăng. Các hạn chế nhập cảnh do các quốc gia áp đặt như các biện pháp đối phó COVID đã gây khó khăn cho việc vận chuyển. Hiện tại, số lượng công nhân ở bến tàu cũng ít hơn do đại dịch, dẫn đến thời gian làm hàng lâu hơn. Đồng thời, đại dịch đã khiến nhu cầu vận chuyển tăng vọt khi mọi người tiêu dùng trực tuyến và ở nhà, khiến giá cả tăng vọt.

Giá dầu chuẩn đã tăng 43% kể từ đầu năm, trong khi giá đồng và niken lần lượt tăng 20% và 13%, và than gần đạt mức cao nhất mọi thời đại.

Đối với một số mặt hàng như dầu mỏ và than đá, các kế hoạch giảm lượng khí thải sẽ chỉ thắt chặt thị trường hơn. Andrew Sheets, giám đốc chiến lược tài sản tại Morgan Stanley, lưu ý: “Áp lực cổ đông và mối đe dọa áp dụng giảm thải cacbon trong tương lai đang khiến các nhà sản xuất dầu giảm mạnh kế hoạch đầu tư”.

Akuta tại Mitsubishi UFJ Research & Consulting cho biết việc tập trung vào giải quyết biến đổi khí hậu sẽ đồng nghĩa với việc tăng nhu cầu về nguyên liệu thô cho xe điện và năng lượng tái tạo và giảm nguồn cung từ các ngành công nghiệp thải ra carbon dioxide.

Akuta cho biết: “Hai mặt của tác động sẽ có nghĩa là giá hàng hóa cao hơn và giá cả có nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì ở mức đó.”

Huy Hoàng(Theo Asian Nikkei)

Xem thêm

Lạm phát khiến Nga thận trọng hạ lãi suất

Lạm phát khiến Nga thận trọng hạ lãi suất

(CLO) Ngân hàng Trung ương Nga vừa quyết định hạ lãi suất cơ bản từ 14,5% xuống 14,25%, mức giảm thấp hơn so với kỳ vọng của thị trường. Động thái này cho thấy cơ quan điều hành tiền tệ vẫn đặt ưu tiên kiểm soát lạm phát lên hàng đầu, trong bối cảnh giá nhiên liệu tăng và áp lực chi tiêu ngân sách tiếp tục gia tăng.

Nhiều động lực tăng trưởng cần được kích hoạt mạnh mẽ

Nhiều động lực tăng trưởng cần được kích hoạt mạnh mẽ

(NB&CL) Dù GDP quý I/2026 tăng 7,83% - mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, song kết quả này vẫn thấp hơn đáng kể so với kịch bản tăng trưởng 9,1% theo Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ. Điều đó đồng nghĩa áp lực tăng trưởng đang dồn mạnh vào các quý còn lại của năm, khi nền kinh tế phải bước vào trạng thái “bứt tốc” để hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số mang tính lịch sử.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung: Muốn tăng trưởng cao phải cải cách mạnh

Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung: Muốn tăng trưởng cao phải cải cách mạnh

(NB&CL) Trong cuộc trao đổi với Nhà báo và Công luận về chủ đề “Tạo sức bật cho giai đoạn tăng trưởng mới”, TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nhấn mạnh: Điều Việt Nam thiếu hiện nay không còn là nguồn lực, mà là khả năng giải phóng nguồn lực thông qua cải cách thể chế và thay đổi cách phân bổ nguồn lực cho tăng trưởng.

Hòa bình Trung Đông và bài toán dư cung dầu mỏ toàn cầu

Hòa bình Trung Đông và bài toán dư cung dầu mỏ toàn cầu

(CLO) Khi nguy cơ gián đoạn nguồn cung dần lùi xa, thị trường dầu mỏ toàn cầu lại đối mặt với bài toán mới: dư thừa dầu. IEA cho rằng nguồn cung có thể tăng mạnh trong khi nhu cầu chỉ tăng khiêm tốn trong năm tới.

GS.TS Trần Thọ Đạt: Tăng trưởng phải bắt đầu từ nội lực

GS.TS Trần Thọ Đạt: Tăng trưởng phải bắt đầu từ nội lực

(NB&CL) Trong cuộc trao đổi với Nhà báo và Công luận về chủ đề “Tạo sức bật cho giai đoạn tăng trưởng mới”, GS.TS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, cho rằng: Muốn tạo sức bật thực chất, Việt Nam cần mở ra không gian tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, và năng lực nội sinh.

Khi “Chính phủ kiến tạo” dùng sức mạnh tài khóa để tạo cú hích cho nền kinh tế

Khi “Chính phủ kiến tạo” dùng sức mạnh tài khóa để tạo cú hích cho nền kinh tế

(NB&CL) Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số đang đặt ra áp lực rất lớn cho nền kinh tế, chính sách tài khóa được xem là “đòn bẩy” quan trọng để tạo sức bật cho tăng trưởng trong giai đoạn tới. Từ đẩy mạnh đầu tư công, miễn giảm thuế phí, hỗ trợ doanh nghiệp đến kích cầu tiêu dùng và khơi thông các nguồn lực xã hội, dư địa của chính sách tài khóa vẫn còn rất lớn nếu được điều hành linh hoạt và hiệu quả.

Giảm thuế, đầu tư hạ tầng, nới visa: Bộ ba chính sách tạo lực đẩy cho du lịch Việt Nam

Giảm thuế, đầu tư hạ tầng, nới visa: Bộ ba chính sách tạo lực đẩy cho du lịch Việt Nam

(NB&CL) Sau khi vượt qua giai đoạn đầy thách thức do đại dịch Covid-19 gây ra, du lịch Việt Nam đã có sự phục hồi ấn tượng và đang trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế. Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, bà Hoàng Thị Năm, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Hang Ngọc Rồng nhấn mạnh: Đằng sau sự phục hồi đó là sự đồng hành của Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương thông qua hàng loạt chính sách hỗ trợ kịp thời và hiệu quả.

Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị kiến tạo hệ sinh thái đầu tư

Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị kiến tạo hệ sinh thái đầu tư

(CLO) Trả lời phỏng vấn của báo Nhà báo và Công luận, từ góc nhìn nhiều năm làm công tác xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước, ông Lê Hữu Quang Huy, Phó Chủ tịch Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam (VIPFA), cho rằng, điểm đáng chú ý của Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là yêu cầu chuyển từ tư duy “chờ đợi nhà đầu tư” sang chủ động tìm kiếm, lựa chọn và đồng hành cùng các đối tác chiến lược, thay vì chỉ cạnh tranh bằng ưu đãi và quy mô vốn.

Nghị quyết 10: Định vị lại vai trò của FDI trong giai đoạn phát triển mới

Nghị quyết 10: Định vị lại vai trò của FDI trong giai đoạn phát triển mới

(CLO) Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị không chỉ khẳng định vai trò quan trọng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mà còn đánh dấu sự chuyển đổi trong tư duy thu hút FDI của Việt Nam. Thay vì ưu tiên số lượng và quy mô vốn, Việt Nam đang hướng tới thu hút công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế.

Thu hút FDI không phải để có thêm nhà máy, mà để Việt Nam giàu lên thực sự

Nghị quyết 10 thể hiện tư duy đột phá về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

(CLO) Nghị quyết 10-NQ/TW cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ trong tư duy phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo GS.TS Trần Thọ Đạt, mục tiêu của Việt Nam không còn là thu hút thật nhiều vốn FDI, mà là tận dụng dòng vốn này để nâng cao năng lực công nghệ, phát triển doanh nghiệp nội địa và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.

Khi nhiệt độ tăng cao trở thành bài toán kinh tế của Ấn Độ

Khi nhiệt độ tăng cao trở thành bài toán kinh tế của Ấn Độ

(CLO) Từ các công trường xây dựng đến nhà máy sản xuất, tác động của sóng nhiệt đang lan rộng khắp nền kinh tế Ấn Độ. Giới chuyên gia cảnh báo rằng nhiệt độ ngày càng tăng có thể trở thành một trong những lực cản lớn nhất đối với năng suất và tăng trưởng trong những năm tới.

Cỡ chữ bài viết: