Liệu châu Á có thể thành “cánh tay đắc lực” cứu Nga khỏi lệnh cấm năng lượng của EU?

(CLO) Hôm qua (26/4), các vấn đề về cơ sở hạ tầng, áp lực chính trị và nhu cầu thấp có thể ngăn châu Á nhập khẩu các nguồn cung cấp năng lượng bị chuyển hướng bất đắc dĩ của Nga.

Tổng thống Nga Vladimir Putin đã đưa ra lời cảnh báo rõ ràng tới các quan chức ngành năng lượng của nước này vào đầu tháng này: Họ cần chuẩn bị cho sự sụt giảm nhập khẩu của phương Tây bằng cách chuyển dòng chảy năng lượng từ châu Âu sang châu Á.

lieu chau a co the thanh canh tay dac luc cuu nga khoi lenh cam nang luong cua eu hinh 1

Tổng thống Nga Vladimir Putin đã kêu gọi các công ty năng lượng chuyển hướng xuất khẩu sang châu Á nếu châu Âu thực hiện lệnh cấm hoàn toàn đối với năng lượng nhập khẩu từ đất nước. Ảnh: Reuters.

Ngoài ra, Liên minh châu Âu đang chịu áp lực ngày càng tăng từ Hoa Kỳ và các quốc gia EU như Ba Lan và Litva trong việc áp đặt lệnh cấm vận đối với dầu khí của Nga để phản ứng với cuộc chiến đang diễn ra của nước này ở Ukraine.

Sự kết hợp của những hạn chế về cơ sở hạ tầng, áp lực chính trị và nhu cầu kinh tế yếu sẽ ngăn thị trường châu Á đón nhận nguồn cung cấp năng lượng mà nếu không sẽ hướng đến châu Âu.

Chuyển hướng xuất khẩu gây khó khăn cho Nga

Phần lớn các đường ống của Nga được thiết kế về mặt địa lý để phục vụ thị trường châu Âu và khó có thể cung cấp cho châu Á.

Hai khách hàng châu Á lớn nhất của Nga là Nhật Bản và Hàn Quốc, đến nay đều là các đồng minh phương Tây, những bên gần như chắc chắn sẽ phải đối mặt với áp lực đáng kể của Mỹ để tránh bất kỳ sự gia tăng nhập khẩu năng lượng nào. Vì thế, đối với năng lượng Nga khó có thể trao niềm tin ở hai quốc gia này.

Ngoài ra, Trung Quốc, nhà nhập khẩu dầu hàng đầu của Nga, đang trải qua suy thoái kinh tế do việc phong toả Covid-19, điều này càng kìm hãm “sự ham muốn” năng lượng của nước này.

Trong khi đó, EU đang cố gắng thiết lập một phương thức thanh toán cân bằng cho phép các quốc gia tuân thủ cả các lệnh trừng phạt của lĩnh vực tài chính đối với Nga và nhu cầu của Điện Kremlin rằng các quốc gia châu Âu phải mua năng lượng của họ bằng đồng rúp.

Tuy nhiên, các nhà phân tích trên thị trường dầu mỏ tin rằng việc châu Âu cấm vận xăng dầu và các sản phẩm của Nga chỉ là vấn đề thời gian, theo Lydia Powell, một học giả cấp cao tại Quỹ Nghiên cứu Observer có trụ sở tại New Delhi. Theo Powell, điều này có thể loại bỏ bốn triệu thùng mỗi ngày khỏi thị trường dầu thô toàn cầu.

Nhận thức được những nguy cơ này, Nga đã nỗ lực giảm thiểu sự phụ thuộc vào các khách hàng phương Tây trong vài năm.

Các phương án dự phòng tại châu Á.

Tổng thống Putin khởi động đường ống dẫn dầu Đông Siberia-Thái Bình Dương vào năm 2012, với mục tiêu cung cấp dầu thô cho Trung Quốc và Nhật Bản. Đường ống Power of Siberia, được khánh thành vào năm 2019, có khả năng vận chuyển tới 38 tỷ mét khối khí đốt của Nga sang Trung Quốc.

Bên cạnh đó, Trung Quốc và Nga đã tiết lộ kế hoạch cho một đường ống dẫn khí đốt khác vào tháng Hai, trong chuyến thăm của ông Putin tới Bắc Kinh chỉ vài tuần trước khi chiến tranh bắt đầu.

Tuy nhiên, các nhà phân tích nói rằng những sáng kiến này chỉ đơn thuần làm nổi bật những phức tạp liên quan đến việc bắt đầu - hoặc gia tăng - giao dịch dầu khí quốc tế.

Theo Filip Medunic, một chuyên gia tại Hội đồng quan hệ đối ngoại châu Âu, chia sẻ với Al Jazeera: “Cơ sở hạ tầng giao thông là yếu tố quan trọng và rất khó để thiết lập ở thị trường châu Á như ở thị trường châu Âu.

Những ràng buộc này không ngăn cản Nga cung cấp dầu với giá trợ cấp và Ấn Độ, nước tiêu thụ dầu lớn thứ ba thế giới, dường như đang chú ý: Vào tháng 3, họ đã tăng nhập khẩu dầu của Nga.

Các quan chức Nga và Ấn Độ cũng đã họp mặt vào tuần trước để cố gắng giải quyết bế tắc về việc vận chuyển than luyện cốc cho các nhà sản xuất thép của Ấn Độ, vốn đã bị trì hoãn từ tháng 3 do các vấn đề về thanh toán và hậu cần.

Ông Powell nói về xuất khẩu dầu của Nga: “Nếu Nga đưa ra những chiết khấu và các điều khoản tín dụng thuận lợi, các nhà lọc dầu quốc tế chắc chắn sẽ bị thu hút.

Tuy nhiên, dầu thô của Nga chỉ chiếm 1,4% nhập khẩu dầu của Ấn Độ vào năm 2020, ngụ ý rằng một bước nhảy vọt sẽ không có lợi nhiều cho Nga.

Hơn nữa, các quốc gia khác nhau sản xuất dầu thô với mật độ khác nhau, và sẽ khó khăn cho các nhà máy lọc dầu khu vực công cũ của Ấn Độ trong việc chuyển đổi khỏi dầu Trung Đông, Mỹ và Mỹ Latinh mà họ hiện đang sử dụng.

Những thách thức trước mắt

Việc tăng mua năng lượng từ Nga, vào thời điểm Ấn Độ đang tăng cường kết nối với Mỹ và EU, có thể gây hại cho các mối quan hệ đối tác như vậy.

Các chuyên gia cảnh báo Hàn Quốc và Nhật Bản, hai trong số 10 khách hàng mua dầu nhiều nhất của Nga, sẽ phải đối mặt với sự chỉ trích lớn hơn nhiều từ Mỹ - nhà cung cấp an ninh chính của họ - nếu họ cố gắng mua thêm dầu.

Và sau đó là Trung Quốc. Vào năm 2020, nhà nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới sẽ mua lại một phần ba tổng lượng dầu của Nga, tuy nhiên nước này có những hạn chế riêng.

Do sự phụ thuộc của Trung Quốc vào nhập khẩu xăng dầu thế nên phải duy trì mối quan hệ bền chặt với tất cả các nhà cung cấp chính và không muốn gây nguy hiểm cho các mối quan hệ bằng cách cắt giảm mua từ một số nước để chấp nhận thêm dầu của Nga.

Việc đóng cửa vô thời hạn ở Thượng Hải, cũng như các trường hợp COVID-19 đang gia tăng ở Bắc Kinh, cũng đang cản trở sự phục hồi kinh tế của đất nước

Ngay cả khi EU áp đặt một lệnh cấm vận gay gắt, lĩnh vực năng lượng của Nga cũng khó có thể sụp đổ hoàn toàn. Belarus là nước tiêu thụ dầu lớn thứ 9 của Nga. Giống như Trung Quốc, Trung Quốc là một đối tác quan trọng và không có khả năng tham gia bất kỳ bước chống Moscow nào.

Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và Việt Nam cũng có các khoản đầu tư vào lĩnh vực nhiên liệu hóa thạch của Nga và chưa cho thấy bất kỳ kế hoạch rút lui nào. Các mỏ dầu và khí đốt có tuổi thọ lên đến ba thập kỷ, vì vậy các công ty có thể đủ khả năng chờ đợi khủng hoảng - chẳng hạn, Chevron vẫn giữ các khoản đầu tư của mình vào Venezuela bất chấp lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Caracas.

Theo Seshasayee, một thành viên của Trung tâm Wilson, điều này sẽ thúc đẩy các quốc gia và tập đoàn của họ đầu tư vào các mỏ của Nga để duy trì nguồn dầu và khí đốt.

Các chuyên gia dự đoán rằng nếu Nga mất thị trường chịu trách nhiệm về phần lớn xuất khẩu dầu và khí đốt, đóng góp 45% ngân sách quốc gia, thì tình trạng suy thoái kinh tế sẽ nghiêm trọng.

Lê Na (Theo Al Jazeera)

Xem thêm

Nhiều động lực tăng trưởng cần được kích hoạt mạnh mẽ

Nhiều động lực tăng trưởng cần được kích hoạt mạnh mẽ

(NB&CL) Dù GDP quý I/2026 tăng 7,83% - mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, song kết quả này vẫn thấp hơn đáng kể so với kịch bản tăng trưởng 9,1% theo Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ. Điều đó đồng nghĩa áp lực tăng trưởng đang dồn mạnh vào các quý còn lại của năm, khi nền kinh tế phải bước vào trạng thái “bứt tốc” để hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số mang tính lịch sử.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung: Muốn tăng trưởng cao phải cải cách mạnh

Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung: Muốn tăng trưởng cao phải cải cách mạnh

(NB&CL) Trong cuộc trao đổi với Nhà báo và Công luận về chủ đề “Tạo sức bật cho giai đoạn tăng trưởng mới”, TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nhấn mạnh: Điều Việt Nam thiếu hiện nay không còn là nguồn lực, mà là khả năng giải phóng nguồn lực thông qua cải cách thể chế và thay đổi cách phân bổ nguồn lực cho tăng trưởng.

Hòa bình Trung Đông và bài toán dư cung dầu mỏ toàn cầu

Hòa bình Trung Đông và bài toán dư cung dầu mỏ toàn cầu

(CLO) Khi nguy cơ gián đoạn nguồn cung dần lùi xa, thị trường dầu mỏ toàn cầu lại đối mặt với bài toán mới: dư thừa dầu. IEA cho rằng nguồn cung có thể tăng mạnh trong khi nhu cầu chỉ tăng khiêm tốn trong năm tới.

GS.TS Trần Thọ Đạt: Tăng trưởng phải bắt đầu từ nội lực

GS.TS Trần Thọ Đạt: Tăng trưởng phải bắt đầu từ nội lực

(NB&CL) Trong cuộc trao đổi với Nhà báo và Công luận về chủ đề “Tạo sức bật cho giai đoạn tăng trưởng mới”, GS.TS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, cho rằng: Muốn tạo sức bật thực chất, Việt Nam cần mở ra không gian tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, và năng lực nội sinh.

Khi “Chính phủ kiến tạo” dùng sức mạnh tài khóa để tạo cú hích cho nền kinh tế

Khi “Chính phủ kiến tạo” dùng sức mạnh tài khóa để tạo cú hích cho nền kinh tế

(NB&CL) Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số đang đặt ra áp lực rất lớn cho nền kinh tế, chính sách tài khóa được xem là “đòn bẩy” quan trọng để tạo sức bật cho tăng trưởng trong giai đoạn tới. Từ đẩy mạnh đầu tư công, miễn giảm thuế phí, hỗ trợ doanh nghiệp đến kích cầu tiêu dùng và khơi thông các nguồn lực xã hội, dư địa của chính sách tài khóa vẫn còn rất lớn nếu được điều hành linh hoạt và hiệu quả.

Giảm thuế, đầu tư hạ tầng, nới visa: Bộ ba chính sách tạo lực đẩy cho du lịch Việt Nam

Giảm thuế, đầu tư hạ tầng, nới visa: Bộ ba chính sách tạo lực đẩy cho du lịch Việt Nam

(NB&CL) Sau khi vượt qua giai đoạn đầy thách thức do đại dịch Covid-19 gây ra, du lịch Việt Nam đã có sự phục hồi ấn tượng và đang trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế. Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, bà Hoàng Thị Năm, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Hang Ngọc Rồng nhấn mạnh: Đằng sau sự phục hồi đó là sự đồng hành của Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương thông qua hàng loạt chính sách hỗ trợ kịp thời và hiệu quả.

Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị kiến tạo hệ sinh thái đầu tư

Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị kiến tạo hệ sinh thái đầu tư

(CLO) Trả lời phỏng vấn của báo Nhà báo và Công luận, từ góc nhìn nhiều năm làm công tác xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước, ông Lê Hữu Quang Huy, Phó Chủ tịch Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam (VIPFA), cho rằng, điểm đáng chú ý của Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là yêu cầu chuyển từ tư duy “chờ đợi nhà đầu tư” sang chủ động tìm kiếm, lựa chọn và đồng hành cùng các đối tác chiến lược, thay vì chỉ cạnh tranh bằng ưu đãi và quy mô vốn.

Nghị quyết 10: Định vị lại vai trò của FDI trong giai đoạn phát triển mới

Nghị quyết 10: Định vị lại vai trò của FDI trong giai đoạn phát triển mới

(CLO) Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị không chỉ khẳng định vai trò quan trọng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mà còn đánh dấu sự chuyển đổi trong tư duy thu hút FDI của Việt Nam. Thay vì ưu tiên số lượng và quy mô vốn, Việt Nam đang hướng tới thu hút công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế.

Thu hút FDI không phải để có thêm nhà máy, mà để Việt Nam giàu lên thực sự

Nghị quyết 10 thể hiện tư duy đột phá về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

(CLO) Nghị quyết 10-NQ/TW cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ trong tư duy phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo GS.TS Trần Thọ Đạt, mục tiêu của Việt Nam không còn là thu hút thật nhiều vốn FDI, mà là tận dụng dòng vốn này để nâng cao năng lực công nghệ, phát triển doanh nghiệp nội địa và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.

Khi nhiệt độ tăng cao trở thành bài toán kinh tế của Ấn Độ

Khi nhiệt độ tăng cao trở thành bài toán kinh tế của Ấn Độ

(CLO) Từ các công trường xây dựng đến nhà máy sản xuất, tác động của sóng nhiệt đang lan rộng khắp nền kinh tế Ấn Độ. Giới chuyên gia cảnh báo rằng nhiệt độ ngày càng tăng có thể trở thành một trong những lực cản lớn nhất đối với năng suất và tăng trưởng trong những năm tới.

Cỡ chữ bài viết: