Long đong gạo Việt!

(CLO) Việt Nam từ một quốc gia thiếu đói đã trở thành cường quốc xuất khẩu gạo, dù đáng tiếc là chưa ghi dấu ấn thương hiệu đáng kể trên thị trường quốc tế. Thậm chí lúc này, khi giá gạo thế giới lên cao, gạo Việt lại phơi mình trên các bến sông, bến cảng, mặc cho gạo Thái, gạo Campuchia chiếm lĩnh...

1. Gạo Việt lận đận suốt gần một tháng qua, bắt đầu từ việc Bộ Công Thương tham mưu với Chính phủ, để ngày 23/3, Thủ tướng đã yêu cầu tạm dừng xuất khẩu gạo nhằm đảm bảo an ninh lương thực trong bối cảnh hạn mặn khốc liệt ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và dịch Covid-19 diễn biến phức tạp.

Ngay sau đó, ngày 24/3, Bộ Công Thương lại kiến nghị Thủ tướng Chính phủ về việc tạm dừng xuất khẩu gạo để có thêm thời gian đánh giá lại sản lượng thực tế của vụ Đông Xuân, lượng hợp đồng xuất khẩu đã ký cũng như lượng tồn kho thực tế ở các doanh nghiệp.

Vụ Đông Xuân tại ĐBSCL trúng mùa, nên dù hạn mặn sản lượng vẫn tương đương 2019. Ảnh: Quốc Trung.

Vụ Đông Xuân tại ĐBSCL trúng mùa, nên dù hạn mặn sản lượng vẫn tương đương 2019. Ảnh: Quốc Trung.

Việc Chính phủ yêu cầu ngưng xuất khẩu gạo được sự đồng thuận của doanh nghiệp muốn thu gom lúa gạo cho các hợp đồng xuất khẩu giá rẻ đã ký, bên cạnh đó là một bộ phận không nhỏ người dân lo lắng về an ninh lương thực. Thế nên, kiến nghị của Bộ Công Thương lại gây phản ứng gay gắt.

Nhưng thực tế, báo cáo của Bộ NN&PTNT đã chỉ rõ: Sản xuất lúa năm 2020 của Việt Nam ước đạt 43,5 triệu tấn, trong đó vụ Đông Xuân ước đạt 20,2 triệu tấn. Riêng ĐBSCL, vụ Đông Xuân đã thu hoạch được 1,3 triệu ha/1,54 triệu ha gieo trồng, sản lượng thu hoạch được 9 triệu tấn/10,8 triệu tấn dự kiến. Về nhu cầu sử dụng trong nước năm 2020 cần 29,96 triệu tấn, trong đó để ăn là 14,26 triệu tấn, dự trữ 3,8 triệu tấn. Như vậy, lượng lúa dư có thể xuất khẩu là 13,54 triệu tấn, tương đương 6,5 - 6,7 tấn gạo.

Tiếp đó, thông tin Trung Quốc 2 tháng đầu 2020 đột nhiên tăng mua 595% về lượng và 724% về kim ngạch so với cùng kỳ 2019 cũng khiến dư luận xã hội "giật mình". Nhưng thực tế, xuất khẩu sang Trung Quốc 2 tháng đầu năm 2020 đạt 66.222 tấn, tuy tăng tới 595% về lượng (do 2 tháng đầu năm 2019 nhập rất ít) nhưng chỉ chiếm 7,13% tổng lượng xuất khẩu. Thêm nữa, Trung Quốc đa số nhập nếp và tấm nếp, ít nhập loại gạo cấp thấp IR50504 mà Việt Nam dự trữ.

Ai cũng biết gạo là sản phẩm dự trữ quan trọng để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, nhưng lại quên mất nó cũng chính là sinh kế của hàng triệu hộ nông dân trồng lúa, nhất là ở ĐBSCL, nơi đang loay hoay ứng phó với hạn mặn.

2. Việc ngày 24/3 Tổng cục Hải quan ra văn bản tạm dừng đăng ký, tiếp nhận và thông quan đối với các lô hàng gạo xuất khẩu dưới mọi hình thức kể từ 0 giờ ngày 24/3 như một đòn "đánh úp" bởi các doanh nghiệp trở tay không kịp, nhiều lô hàng gạo đã và đang trên đường vận chuyển ra cảng để thực hiện xuất khẩu theo các hợp đồng đã ký nhưng do chưa kịp đăng ký tờ khai hải quan trước 0 giờ ngày 24/3 nên đều phải dừng lại. Từ đó tới nay, các doanh nghiệp phải chịu rất nhiều phí tổn về lưu kho bãi, lưu container, lãi suất ngân hàng, trông giữ,…

"Mắc kẹt" gạo tại cảng, các doanh nghiệp xuất khẩu phải chịu mất khoảng 50 tỉ đồng/ngày. Ảnh: CTV.

"Mắc kẹt" gạo tại cảng, các doanh nghiệp xuất khẩu phải chịu mất khoảng 50 tỉ đồng/ngày. Ảnh: CTV.

Tiếp đó, ngày 10/4, Thủ tướng đồng ý cho xuất khẩu gạo trở lại, trước mắt là 400.000 tấn trong tháng 4/2020. Tổng cục Hải quan một lần nữa lại khiến các doanh nghiệp ngã ngửa khi bất ngờ mở lại hệ thống khai hải quan xuất khẩu gạo vào lúc 0 giờ sáng ngày chủ nhật 12/4 mà không hề thông báo trước. Chỉ 3 tiếng sau đó, hệ thống này đã đóng sau khi đủ hạn ngạch 400.000 tấn.

Các doanh nghiệp và dư luận xã hội đã bất bình, ví von việc mở lại hệ thống khai hải quan xuất khẩu gạo lúc 0 giờ sáng là "xài giờ cõi âm". Theo ông Phạm Thái Bình - Tổng Giám đốc Công ty Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An, từ 24/3, quyết định dừng xuất khẩu gạo đột ngột đã khiến khoảng 300.000 tấn gạo “mắc kẹt” tại các cảng. Mỗi ngày nằm chờ, các doanh nghiệp phải chịu mất thêm khoảng 50 tỷ đồng. Lẽ ra 300.000 tấn gạo "mắc kẹt" trên phải nằm trong số 400.000 tấn - hạn ngạch của tháng 4/2020 được xuất đi, nhưng "cuộc đánh úp lúc nửa đêm” đã lấy đi tất cả hy vọng của họ.

Và bất ngờ là có một số doanh nghiệp không hiểu sao lại biết thời gian mở hệ thống khai hải quan xuất khẩu lúc nửa đêm để nhanh tay đăng ký. Bất ngờ hơn, trong số đó có doanh nghiệp trúng thầu cung cấp gạo dự trữ nhưng lại hủy hoặc từ chối ký hợp đồng để đem gạo xuất khẩu, như Tổng Công ty Lương thực miền Bắc, Công ty TNHH Phát Tài, Công ty CP Mỹ Tường, Công ty CP Thuận Minh,…

Phải chăng, "an ninh lương thực" chỉ là cái cớ để doanh nghiệp dễ dàng thu gom gạo xuất khẩu thu lợi cao, thay vì đưa vào kho dự trữ quốc gia đang trống rỗng?

3. Doanh nghiệp kêu gào, các địa phương kiến nghị khi lúa gạo ùn ứ tại các kho chứa, bến sông, bến cảng, thì các Bộ ngành lại loay hoay kiến nghị, thậm chí có dấu hiệu "đá trách nhiệm" cho nhau.

Về phía Bộ NN&PTNT, dù là cơ quan nắm bắt tình hình sản xuất lúa gạo, ngoài việc cung cấp các thông tin về sản lượng, nhu cầu tiêu dùng trong nước, lượng gạo xuất khẩu dự kiến,… thì chưa thấy có một động thái quyết liệt, chủ động nào để bảo vệ quyền lợi của người nông dân, các doanh nghiệp, nhất là bảo vệ một ngành sản xuất then chốt.

Vụ Đông Xuân tại ĐBSCL thu hoạch được 9 triệu tấn/10,8 triệu tấn dự kiến. Ảnh: Lê Thế Thắng.

Vụ Đông Xuân tại ĐBSCL thu hoạch được 9 triệu tấn/10,8 triệu tấn dự kiến. Ảnh: Lê Thế Thắng.

Tiếp đó, Bộ Công Thương - cơ quan tham mưu dừng xuất khẩu gạo cũng thể hiện sự lúng túng. Theo đó, ngay sau khi có Chỉ đạo của Thủ tướng, Bộ đã ban hành Quyết định số 1106/QĐ-BCT ngày 10/4/2020 công bố hạn ngạch xuất khẩu gạo tháng 4/2020 là 400.000 tấn. Tuy nhiên, do nhận được nhiều ý kiến phản ánh việc đăng ký tờ khai xuất hiện một số bất cập, nên ngày 15/4, Bộ này đã có văn bản đề nghị Bộ Tài chính xem xét, giải quyết các kiến nghị của doanh nghiệp; công bố danh sách các thương nhân đã đăng ký tờ khai hải quan xuất khẩu theo hạn ngạch 400.000 tấn - đang được hiểu là yêu cầu làm rõ "cuộc đánh úp lúc 0 giờ”.

Về phía Bộ Tài chính, sau việc mở hệ thống khai hải quan xuất khẩu gạo lúc nửa đêm không báo trước khiến các doanh nghiệp khốn đốn, Bộ này giờ kiến nghị Chính phủ cho phép xuất khẩu các lô hàng gạo đã đưa vào cảng trước ngày 24/3 nhưng chưa đăng ký tờ khai hải quan trong tháng 4/2020… Thêm nữa, để tuyên bố về sự "minh bạch", Bộ trưởng Bộ Tài chính lại vừa có văn bản gửi Bộ Công an đề nghị điều tra, xác minh thông tin tiêu cực trong hoạt động xuất khẩu 400.000 tấn gạo thuộc hạn ngạch tháng 4/2020...

Lúc này, "trăm dâu" lại "đổ đầu"… Chính phủ.

Tại cuộc họp chiều 20/4, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đánh giá việc xuất khẩu gạo cần phải xem xét kỹ lưỡng, thận trọng, phải bảo đảm an ninh lương thực, giảm thiểu việc gián đoạn chuỗi sản xuất, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho người nông dân và các tổ chức kinh doanh có liên quan.

Do đó, Phó Thủ tướng yêu cầu tạm ứng trước hạn ngạch 100.000 tấn gạo từ hạn ngạch xuất khẩu trong tháng 5/2020 để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp hiện có gạo tồn đọng tại cảng nhưng chưa mở được tờ khai hải quan; yêu cầu Bộ Tài chính rà soát lại quy trình, thủ tục trong việc mở tờ khai hải quan, bảo đảm công khai, minh bạch, không để xảy ra tiêu cực, trục lợi chính sách.

Nông dân ĐBSCL cấy trồng quanh năm, bán được lúa gạo mới có tiền đầu tư vụ mới. Ảnh: Lê Thế Thắng.

Nông dân ĐBSCL cấy trồng quanh năm, bán được lúa gạo mới có tiền đầu tư vụ mới. Ảnh: Lê Thế Thắng.

Dù Chính phủ đã có những chỉ đạo nhằm tháo gỡ khó khăn, nhưng khi các Bộ ngành vẫn còn "lời qua tiếng lại", những mập mờ trong đấu thầu cung cấp gạo dự trữ quốc gia, trong mở tờ khai hải quan, nghi vấn tiêu cực trong đề xuất ngưng xuất khẩu để neo giá lúa gạo còn đó, thì số phận hạt gạo Việt Nam vẫn còn long đong, nhất là khi vụ Hè Thu sẽ tới kỳ thu hoạch trong vài tuần nữa.

Hạt gạo Việt Nam long đong vì mối lo an ninh lương thực - là vấn đề quan trọng liên quan đến đời sống người dân, an ninh quốc phòng. Nhưng ít ai nhận thức rằng căn cốt của an ninh lương thực phải là nông dân có thu nhập cao dần từ cây lúa, có tiền để đầu tư vụ mới, có động lực để tái sản xuất,… chứ không phải tất cả nằm im nhờ Nhà nước xả kho dự trữ cứu đói.

Thế nên, với hàng loạt các chính sách về lúa gạo đá nhau chan chát, hạt gạo Việt Nam lại thêm phần long đong, ngậm ngùi nhìn gạo Thái, gạo Campuchia đĩnh đạc vào các siêu thị toàn cầu, khi giá gạo thế giới liên tục thiết lập các cột mốc mới.

Xem thêm

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

(NB&CL) Nội dung giật gân, những tập phim nối tiếp và lời mời trả phí có thể cuốn người xem vào hàng giờ giải trí, tiêu tiền ngoài dự tính. Rủi ro càng đáng quan tâm khi trẻ em tiếp cận nội dung không phù hợp độ tuổi. Phim ngắn AI đang đặt Việt Nam trước bài toán quản lý cả nội dung, nền tảng phân phối và dòng tiền. Sự phát triển của phim ngắn AI đòi hỏi cách quản lý phù hợp với tốc độ sản xuất và thói quen xem phim trên điện thoại. 

Việc triển khai cấp phát miễn phí SGK cho học sinh phổ thông toàn thành phố không chỉ khẳng định triết lý “lấy con người làm trung tâm” mà còn là bước đột phá lớn để bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Ảnh Sở GD&ĐT.

Bài 3: Lấy con người làm trung tâm - “Trái tim” của sự phát triển bền vững

(CLO) Không nằm ở những con số tăng trưởng mang tính định lượng khô khan hay các siêu dự án tỷ USD, thước đo nhân văn và sắc nét nhất cho sự bứt phá của Thành phố Quảng Ninh chính là việc định hình lại tiêu chuẩn sống, biến mỗi người dân thành trung tâm thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển.

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

(CLO) Có những buổi tối, tôi nghe tiếng phim phát ra từ điện thoại của vợ mà phát bực. Ăn cơm xong, cô ấy lại nằm xuống xem những bộ phim ngắn với những nhân vật đẹp đến mức không thật, những câu chuyện quanh đi quẩn lại chuyện phản bội, bị coi thường, lật ngược thân phận rồi trả thù. Hết một đoạn lại “Tập tiếp theo”, và cứ thế câu chuyện kéo dài đến khuya.

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Cỡ chữ bài viết: