NEU: “Lãi suất cho vay mặc dù đã được giảm nhưng vẫn còn ở mức cao”

Một số bất cập liên quan tới chính sách tiền tệ 

Nhằm đối phó với những tác động của đại dịch COVID-19, trong 2 năm qua, Chính phủ đã  có những bước đi kiên quyết và đúng đắn để hạn chế sự lây lan bùng phát của dịch bệnh.

Hiện tại, đợt bùng phát lần thứ 4 đã tạm thời lắng xuống, nhiều địa phương đã từng bước nới lỏng giãn cách, doanh nghiệp và người lao động đang dần quay trở lại hoạt động sản xuất kinh doanh. Nền kinh tế hiện đang đứng trước yêu cầu hồi phục kinh tế một cách vững chắc trong bối cảnh chấp nhận “sống chung với COVID-19”.

neu lai suat cho vay mac du da duoc giam nhung van con o muc cao hinh 1

Cho tới nay, lãi suất cho vay mặc dù đã được giảm nhưng vẫn còn ở mức cao và cao hơn so với các nước trong khu vực.

Theo một nghiên cứu của trường Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU), nhằm hỗ trợ kinh tế hồi phục, Chính phủ đã ban hành nhiều giải pháp về tài khóa, tiền tệ và an sinh xã hội. Về cơ bản, các giải pháp này đã và đang tạo ra xung lực cho kinh tế tăng trưởng trở lại. Thế nhưng, các giải pháp hỗ trợ kinh tế vẫn còn một số bất cập. 

Cụ thể, về các chính sách về tiền tệ, cho tới nay, lãi suất cho vay mặc dù đã được giảm nhưng vẫn còn ở mức cao và cao hơn so với các nước trong khu vực. Lãi suất cho vay khách hàng là hộ thoát nghèo và hộ cận nghèo của ngân hàng chính sách gần tương đương lãi suất cho vay khách hàng của các ngân hàng thương mại.

Bên cạnh đó, việc điều hành lãi suất của ngân hàng Nhà nước chưa có tác động giảm lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng. Thậm chí, Ngân hàng Nhà nước vẫn phải thông qua đầu mối Hiệp hội Ngân hàng để kêu gọi, thuyết phục các ngân hàng thương mại giảm lãi suất cho vay, giảm lãi suất đối với khách hàng.

Báo cáo của NEU cũng nhận định rằng, Ngân hàng Nhà nước duy trì quá lâu công cụ hành chính đó là Hạn mức tín dụng, thậm chí là thông báo kế hoạch “nhỏ giọt”, tạo ra cơ chế xin cho của Ngân hàng Nhà nước đối với Ngân hàng Thương mại.

Đồng thời, phản ứng trong điều hành chính sách của Ngân hàng Nhà nước vẫn có lúc chưa kịp thời, nhất là tái cấp vốn cho vay lúa gạo, cho vay hãng hàng không và mới chỉ tạo điều kiện cho Vietnam Airlines (VNA), còn các hãng khác chưa được hưởng lợi từ chính sách.

PGS.TS Phạm Hồng Chương, Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết, Do tác động của đại dịch COVID-19, tỷ lệ nợ xấu kể cả nợ đã trích dự phòng rủi ro và bán cho VAMC tiềm ẩn tăng cao, đặt ra những thách thức mới trong năm 2022 khi mà các doanh nghiệp vẫn rất khó khăn và dư địa vận dụng Nghị quyết 42 không còn.

“Các cấp chính quyền, các ngành chức năng do tập trung và hỗ trợ phục hồi phát triển kinh tế - xã hội địa phương giai đoạn mới nên sẽ không quan tâm nhiều đến phối hợp xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42”, đại diện NEU cho biết.

Kiến nghị NHNN giảm 0,5% tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Trong tình hình hiện nay, NEU kiến nghị Chính phủ quán triệt hai quan điểm cơ bản khi đưa ra các chính sách.

Trong đó, các chính sách cần tập trung hướng đến làm thế nào để hồi phục và phát triển nền kinh tế một cách bền vững trong bối cảnh “sống chung với COVID-19”, thay vì tập trung theo hướng “ứng phó với COVID-19” và chỉ tập trung tháo gỡ khó khăn do tác động của đại dịch.

Điều này phù hợp với chiến lược mới của Chính phủ là “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” thay vì chiến lược “Không COVID-19”.

neu lai suat cho vay mac du da duoc giam nhung van con o muc cao hinh 2

Do dư địa chính sách dần thu hẹp, các chính sách cần hướng các giải pháp cũng như nguồn lực ưu tiên đến khu vực doanh nghiệp.

Ngoài ra, do dư địa chính sách dần thu hẹp, các chính sách cần hướng các giải pháp cũng như nguồn lực ưu tiên đến khu vực doanh nghiệp, tạo điều kiện cho khu vực doanh nghiệp phục hồi và phát triển trong đại dịch. 

Đặc biệt là những doanh nghiệp có ảnh hưởng lan tỏa lớn đến các doanh nghiệp, các khu vực khác của nền kinh tế; các doanh nghiệp hạt nhân của các chuỗi cung ứng. Điều này cũng tạo điều kiện để tạo cầu lao động, hỗ trợ an sinh xã hội (thông qua doanh nghiệp), đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động. 

Với 2 quan điểm cơ bản nêu trên, PGS.TS Phạm Hồng Chương kiến nghị 5 giải pháp liên quan tới các giải pháp hỗ trợ tiền tệ. 

Thứ nhất, trên cơ sở mục tiêu của Quốc hội, Chính phủ về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2021, tới đây sẽ là mục tiêu và kế hoạch của năm 2022, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cần tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, thị trường, đảm bảo mục tiêu tăng trưởng tín dụng đề ra từ đầu năm (12%), nếu không ít nhất cũng phải đạt trên 10%.

Thứ hai, NHNN cần nghiên cứu để giảm 0,5% tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong 2 tháng cuối năm 2021 và giảm tiếp 0,5% trong quý I/2022. Theo đó, sẽ tác động giảm đáng kể lãi suất cho vay đối với nền kinh tế. 

“Bởi vì, chỉ cần giảm 0,5% tỷ lệ này, sẽ giải phóng được số vốn lên tới 50.000 tỷ đồng để cho vay đối với nền kinh tế, chưa tính đến chi phí tín dụng của các tổ chức tín dụng sẽ giảm xuống, đồng thời tăng khả năng tạo tiền, tăng tổng phương tiện thanh toán cho nền kinh tế”, PGS.TS Phạm Hồng Chương phân tích.

Thứ ba, NHNN nghiên cứu để bỏ hạn mức tín dụng đối với các NHTM đáp ứng được các tiêu chí của Basel II và có tỷ lệ nợ xấu dưới 3% nhằm giải phóng năng lực và tăng tính chủ động trong việc cấp tín dụng lành mạnh của các tổ chức tín dụng đó. Tránh tình trạng nặng nề về thủ tục và can thiệp hành chính cũng như tình trạng xin, cho để được mở zoom tín dụng.

Thứ tư, NHNN chỉ đạo và giám sát các TCTD tiếp tục giảm chi phí để tiếp tục giảm lãi suất cho vay hỗ trợ sản xuất - kinh doanh; các TCTD thực hiện cam kết giảm lãi suất cho vay đối với nền kinh tế;.

Thứ năm, NHNN chỉ đạo giảm lãi suất cho vay hộ mới thoát nghèo, hộ cận nghèo của ngân hàng chính sách xã hội. Đồng thời mở ra chương trình cho vay vốn tạo việc làm đối với người lao động bị ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 thông qua ngân hàng chính sách. NHNN mở rộng kênh tái cấp vốn để NHTM cho vay các Hãng hàng không khác, để ngân hàng chính sách cho vay vốn người lao động mất việc làm.

Xem thêm

Pin lưu trữ: Giải pháp mới giảm áp lực cho lưới điện công nghiệp

Pin lưu trữ: Giải pháp mới giảm áp lực cho lưới điện công nghiệp

(CLO) Việc EVNNPC đưa các hệ thống BESS đầu tiên vào vận hành tại trạm biến áp 110 kV đánh dấu bước thử nghiệm công nghệ lưu trữ trên lưới điện phân phối. Giải pháp này được kỳ vọng hỗ trợ điều tiết phụ tải, giảm nguy cơ quá tải cục bộ tại những khu vực có nhu cầu điện công nghiệp lớn.

Việt Nam – EU: Cam kết hai chiều để nâng chất dòng vốn

Việt Nam – EU: Cam kết hai chiều để nâng chất dòng vốn

(CLO) Vượt qua quy mô hơn 33 tỷ USD hiện hữu, hợp tác đầu tư Việt Nam – EU đang bước vào giai đoạn nâng tầm về chiều sâu công nghệ. Tại tọa đàm sáng 8/9 do Bộ Tài chính tổ chức, hai bên khẳng định Nghị quyết 10-NQ/TW là đòn bẩy cải cách ưu đãi, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và kết nối doanh nghiệp châu Âu với chuỗi giá trị trong nước.

Đà Nẵng thí điểm phát triển kinh tế không gian tầm thấp

Đà Nẵng thí điểm phát triển kinh tế không gian tầm thấp

(CLO) Mở rộng dư địa phát triển lên vùng trời, Đà Nẵng đặt mục tiêu xây dựng hoàn chỉnh hệ sinh thái thử nghiệm, sản xuất và ứng dụng phương tiện bay tầm thấp (UAV) đến năm 2030. Nội dung Đề án vừa được đưa ra thảo luận tại hội thảo do UBND thành phố tổ chức sáng nay (8/9).

Biến năng lượng lãng phí thành 'nguồn tài nguyên' cho tăng trưởng

Biến năng lượng lãng phí thành 'nguồn tài nguyên' cho tăng trưởng

(CLO) Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng ngày càng tăng, việc mở rộng nguồn cung không phải là lời giải duy nhất. Giảm lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng đang mở ra một “nguồn tài nguyên” mới cho doanh nghiệp, vừa tiết giảm chi phí sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh, vừa góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và giảm phát thải.

Khi cả thế giới 'ôm' USD quá chặt

Khi cả thế giới 'ôm' USD quá chặt

(CLO) Các quỹ hưu trí và công ty bảo hiểm trên toàn cầu đang “ôm” lượng lớn tài sản Mỹ nhưng lại giảm mức phòng ngừa rủi ro trước khả năng đồng USD suy yếu. Nếu tâm lý thị trường đảo chiều, việc đồng loạt tăng cường phòng vệ có thể tạo áp lực bán lớn lên đồng bạc xanh.

Lũ quét gây thiệt hại nặng nề, Nepal chật vật tìm nguồn lực phục hồi

Lũ quét gây thiệt hại nặng nề, Nepal chật vật tìm nguồn lực phục hồi

(CLO) Trận lũ quét thảm khốc gần đây đã gây thiệt hại khoảng 5 tỷ USD cho Nepal, tương đương một phần mười tổng sản lượng kinh tế hằng năm. Con số này đang tạo thêm áp lực lớn lên nền kinh tế vốn phụ thuộc nhiều vào kiều hối và vẫn chưa hoàn toàn vượt qua những tổn thất từ trận động đất năm 2015.

Mở “luồng xanh tăng trưởng” cho doanh nghiệp: Nguồn lực phải đến đúng nơi có năng lực, có khả năng tạo giá trị

Mở “luồng xanh tăng trưởng” cho doanh nghiệp: Nguồn lực phải đến đúng nơi có năng lực, có khả năng tạo giá trị

(NB&CL) Muốn tăng trưởng hai con số, nguồn lực phải đến đúng nơi có đơn hàng, có năng lực và có khả năng tạo thêm giá trị. 6 tháng đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam tăng 8,18%, nhưng chặng đường tới mục tiêu từ 10% trở lên vẫn còn rất dốc. Theo GS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, tăng trưởng chỉ có thể được nâng lên một quỹ đạo mới khi các chính sách hỗ trợ được chuyển thành dòng vốn, mặt bằng, năng lượng, thủ tục và cơ hội thị trường cụ thể cho doanh nghiệp.

Năm 2027: Doanh nghiệp Việt đối mặt cuộc 'sàng lọc' mạnh

Năm 2027: Doanh nghiệp Việt đối mặt cuộc 'sàng lọc' mạnh

(CLO) Dù kinh tế vĩ mô tiếp tục duy trì ổn định, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều sức ép từ chi phí sản xuất, khả năng tiếp cận vốn đến yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, năm 2027 được dự báo sẽ là giai đoạn doanh nghiệp chịu sự sàng lọc mạnh hơn.

Chiến tranh Mỹ - Iran: Ai thắng, ai thua trong cơn địa chấn kinh tế?

Chiến tranh Mỹ - Iran: Ai thắng, ai thua trong cơn địa chấn kinh tế?

(CLO) Trong khi các tập đoàn dầu khí, quốc phòng và ngân hàng hưởng lợi từ giá năng lượng leo thang, nhu cầu vũ khí tăng cao cùng các biến động thị trường, thì người nộp thuế, người nghèo và các ngành phụ thuộc nhiên liệu lại phải gánh chịu phần lớn chi phí của cuộc khủng hoảng.

Hơn 1 triệu tỷ đồng đầu tư công, vì sao tiền vẫn chưa “chảy” vào nền kinh tế?

Hơn 1 triệu tỷ đồng đầu tư công, vì sao tiền vẫn chưa “chảy” vào nền kinh tế?

(NB&CL) Hơn 1 triệu tỷ đồng vốn đầu tư công đã được bố trí trong năm 2026, nhưng sau 7 tháng, mới giải ngân khoảng 425.300 tỷ đồng. Đằng sau khoảng cách giữa vốn được phân bổ và dòng tiền thực sự đi vào nền kinh tế là hàng loạt điểm nghẽn từ đất đai, giải phóng mặt bằng, vật liệu xây dựng đến thủ tục và trách nhiệm thực thi.

Người Việt có thể làm chủ ngành công nghiệp của tương lai không?

Người Việt có thể làm chủ ngành công nghiệp của tương lai không?

(NB&CL) Với chủ đề “Để chạm tay vào đích tăng trưởng hai con số”, cuộc trao đổi của Nhà báo và Công luận với ông Bùi Xuân Bình, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc GG Power không chỉ nhìn từ mục tiêu tăng trưởng của năm 2026, mà còn từ câu hỏi lớn hơn: Việt Nam sẽ phát triển bằng năng lực nào, công nghệ nào và doanh nghiệp (DN) nào trong giai đoạn mới?

Đầu tư công phải tạo hiệu ứng lan tỏa, không thể chỉ chạy theo tỷ lệ giải ngân

Đầu tư công phải tạo hiệu ứng lan tỏa, không thể chỉ chạy theo tỷ lệ giải ngân

(NB&CL) TS. Nguyễn Quốc Việt cho rằng, đầu tư công không thể chỉ được đánh giá bằng tỷ lệ giải ngân mà quan trọng hơn là hiệu quả sử dụng vốn và khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa cho nền kinh tế. Theo ông, cần tránh tư duy chạy theo tiến độ, đồng thời gắn trách nhiệm giải trình với chất lượng và tác động thực tế của từng dự án.

Cỡ chữ bài viết: