Điều chỉnh kích thước chữ

Người mua nhà ở xã hội chỉ cần trả trước 20% giá trị căn hộ

(CLO) Theo Bộ Xây dựng, Nghị định 49 cho phép người mua nhà ở xã hội vay tối đa 80% tổng giá trị căn hộ. Lãi suất vay mua nhà ở xã hội cũng thấp, chỉ 4,8%/năm.

Audio

Trong 5 năm gần đây, Chính phủ, cùng một số Bộ ngành liên quan đã liên tục đưa ra nhiều chính sách ưu đãi về thuế, quỹ đất, hoặc các gói tín dụng để làm tăng nguồn cung nhà ở xã hội ở các thành phố lớn.

Tuy nhiên, theo thống kê của Bộ Xây dựng, tính tới hết năm 2020, cả nước đã hoàn thành 256 dự án nhà ở xã hội khu vực đô thị, quy mô xây dựng khoảng hơn 104.200 căn, với tổng diện tích hơn 5,2 triệu m2.

Người mua nhà ở xã hội chỉ cần trả trước 20% giá trị căn hộ.

Người mua nhà ở xã hội chỉ cần trả trước 20% giá trị căn hộ.

Hiện các chủ đầu tư, đơn vị đang tiếp tục triển khai 264 dự án, với quy mô xây dựng khoảng 219.000 căn, với tổng diện tích khoảng 11 triệu m2. 

Ghi nhận từ thực tế cho thấy, mặc dù đang có 264 dự án đang được triển khai, tuy nhiên nhiều dự án trong số đó đang có hiện tượng “nằm im”, và không rõ đến bao giờ mới bàn giao mặt bằng. 

Theo Chiến lược nhà ở Quốc gia tới năm 2020, tầm nhìn tới năm 2030, mục tiêu phát triển nhà ở xã hội ở vùng đô thị trong năm 2020 sẽ đạt 12 triệu m2. Như vậy, kết quả thực tế chưa đạt được 1/2 chỉ tiêu đã đề ra.

Chính vì lý do đó, Chính phủ và Bộ Xây dựng trong thời gian qua đã ban hành nhiều giải pháp để hỗ trợ nguồn cung nhà ở xã hội. Ví dụ như ban hành tiêu chuẩn căn hộ dưới 25 m2. 

Đặc biệt, là Nghị định 49/2021/NĐ-CP, sửa đổi bổ sung Nghị định 100/2015/NĐ-CP đã giải quyết được nhiều vướng mắc trong hoạt động đầu tư, tạo điều kiện hỗ trợ người dân được tiếp cận với nhà ở xã hội.

Theo Bộ Xây dựng, nội dung quan trọng nhất là việc Nghị định 49 đã bổ sung, sửa đổi quy định về mức vay vốn ưu đãi để xây mới, cải tạo và sửa chữa nhà ở. Cụ thể, trường hợp mua, thuê mua nhà ở xã hội, mức vốn cho vay tối đa bằng 80% giá trị hợp đồng mua, thuê mua nhà.

Trường hợp xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở thì mức vốn cho vay tối đa bằng 70% giá trị dự toán hoặc phương án vay, tối đa không quá 500 triệu đồng và không vượt quá 70% giá trị tài sản bảo đảm tiền vay. 

Thời hạn vay do ngân hàng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng và tối đa không quá 25 năm kể từ ngày giải ngân khoản vay đầu tiên.

Bên cạnh đó, Nghị định 49 đã sửa đổi, bổ sung các quy định về trình tự, thủ tục đăng ký mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội. Theo đó, Sở Xây dựng có trách nhiệm cập nhật Danh sách các đối tượng được mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội lên Cổng thông tin điện tử của Sở Xây dựng và Bộ Xây dựng. 

Điều này nhằm loại trừ việc người được mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội được hỗ trợ nhiều lần hoặc đã có nhà ở, đất ở; đã được Nhà nước hỗ trợ về nhà ở, đất ở; có phát sinh nộp thuế thu nhập cá nhân tại địa phương.

Nghị định 49 cũng sửa đổi quy định về tiền đặt cọc của người thuê nhà ở xã hội, giảm thời gian người thuê nhà ở xã hội phải nộp trước tiền đặt cọc cho bên cho thuê nhà từ 12 tháng giảm xuống còn 3 tháng, và tối thiểu giảm từ 3 tháng xuống còn 1 tháng nhằm tạo điều kiện cho người dân có thu nhập thấp có điều kiện được tiếp cận quỹ nhà ở xã hội cho thuê tại các dự án.

Nghị định 49 cũng thêm một số quy định ưu đãi chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội nhằm thúc đẩy tiến độ thực hiện dự án nhà ở xã hội cũng như góp phần làm tăng nguồn cung nhà ở xã hội.

Cụ thể, chủ đầu tư được dành 20% tổng diện tích đất ở để đầu tư xây dựng nhà ở thương mại; cho phép khấu trừ chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng khi chủ đầu tư phải thực hiện nghĩa vụ tài chính với địa phương.

Nghị định 49 cho phép UBND cấp tỉnh hỗ trợ đấu nối hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong dự án với hệ thống hạ tầng kỹ thuật chung của khu vực trong trường hợp hoàn thành việc đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật trong phạm vi dự án xây dựng nhà ở xã hội trong vòng 12 tháng kể từ ngày được giao đất, cho thuê đất.

Ngoài ra, Nghị định 49  cho phép dự án nhà ở xã hội loại hình chung cư được điều chỉnh tăng mật độ xây dựng hoặc hệ số sử dụng đất nhưng phải đảm bảo sự phù hợp với chỉ tiêu dân số, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, không gian, kiến trúc cảnh quan trong phạm vi đồ án quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt và phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch đó phê duyệt điều chỉnh.

Việt Vũ