Điều chỉnh kích thước chữ

Nguyễn Công Trứ - Thông xanh Ngàn Hống

(CLO) Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ sinh ngày 19/12/1778 tại xã Địa Linh, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, có tiểu huý là Củng, tự Tồn Chất, hiệu là Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn. Ông mất ngày 14/11/1858.

 

Khu di tích Nguyễn Công Trứ tại huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh 


Một trượng phu quân tử

Thân sinh ông là Đức Ngạn hầu Nguyễn Công Tấn (1720 - 1800), người làng Uy Viễn, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là người học rộng, chữ nghĩa văn chương có tiếng, năm 19 tuổi đỗ đầu thi Hương khoa thi Kỷ Mùi (1739). Trong thời gian làm quan ở Thái Bình, ông Nguyễn Công Tấn đã kết duyên cùng bà Nguyễn Thị Phan người làng Phụng Dực, huyện Thượng Phúc, tỉnh Sơn Nam (nay là huyện Thường Tín - Hà Nội) con gái Cảnh Nhạc Bá làm quan Quản Nội dưới triều Lê - Trịnh. Sau khi kết hôn, bà Phan theo chồng về Quỳnh Côi và sinh ra Nguyễn Công Trứ. Ông Nguyễn Công Tấn là một vị quan thanh liêm, đức độ và trung thành với nhà Lê, ông được ngợi khen là tuần lương, thăng Tư phủ Tiên Hưng (Thái Bình) rồi Hiến phó Sơn Nam, nhưng khi chưa nhậm chức thì bị bắt vì tham gia dấy binh chống lại quân Tây Sơn. Năm Kỷ Dậu (1789), sau khi được thả về, ông đưa gia đình về quê Uy Viễn, mở trường dạy học.

Thuở nhỏ, Nguyễn Công Trứ đã bộc lộ trí thông minh, năng khiếu thiên bẩm văn chương và khí phách hơn người. Ông luôn có khát vọng đem tài năng của mình ra kinh bang tế thế, giúp ích cho dân cho nước với tuyên ngôn lập thân:

    Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông

                             (Đi thi tự vịnh)

Năm Nhâm Tuất (1804), lúc đó Nguyễn Công Trứ 26 tuổi, khi vua Gia Long trên đường ra Bắc Hà kinh lý khi qua Nghệ An, ông đã trải chiếu nằm đường chờ để dâng lên tập "Thái Bình thập sách" (mười kế sách giữ nước nhà thái bình) do mình soạn. Tuy nhiên, ý kiến của một “bạch diện thư sinh” chẳng thấu lòng vua. Từ đây, ông nhận thức được rằng, là kẻ sĩ muốn thành trượng phu thì trước hết phải học hành thi cử đỗ đạt, phải có “danh” mới thực hiện được việc lớn hữu ích cho đời. Từ đó Nguyễn Công Trứ đã quyết chí bằng con đường học hành khoa cử.

Đến khoa thi năm Quý Dậu (1813), Nguyễn Công Trứ đã đỗ Sinh Ðồ (Tú Tài). Và khoa thi Kỷ Mão (1819), Gia Long thứ 18, ông đỗ Giải Nguyên trường Nghệ.

Con đường công danh, sự nghiệp của Nguyễn Công Trứ trải qua nhiều chông gai gập ghềnh. Trong 28 năm làm quan giữ 26 chức vụ khác nhau, Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ đã nếm trải nhiều thăng trầm, vinh nhục của sự thăng, giáng chức quyền. Là con người có khí phách ngay thẳng, dám làm, dám chịu, nổi tiếng thanh liêm nhưng Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ vẫn bị gian thần gièm pha, vu vạ tìm cách hãm hại bằng những chuyện bịa đặt, khiến ông chịu nhiều phen điêu đứng. Chúng vu ông buôn lậu, mưu phản triều đình, vượt quyền vua. Đây đều là trọng tội nên bị giáng chức phải đi làm lính, có khi phải chịu án "trảm giam hậu" (tội chém, nhưng giam chờ lệnh).

Làm quan vào thời kỳ xã hội có nhiều biến động, không ít lần bị đối xử bất công, nhưng Uy Viễn Tướng Công vẫn giữ vững khí phách, tiết tháo của một nhà nho chân chính. Người đời cảm phục, trân quý Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ khi thấy ông từ địa vị cao sang, quyền uy của một đại quan triều đình bị hàm oan trọng tội, giáng chức xuống làm lính nhưng vẫn bình thản, ung dung tự tại: "Khi ta làm Đại tướng không lấy đó làm vinh, nay là lính cũng không hề thấy nhục".

Nhân cách cao đẹp của Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ là tấm gương của một trượng phu, quân tử. Dù phải trải qua bao lần thăng biến mà không oán, không ghét kẻ đã vu oan cho mình. Trong cuộc đời làm quan, dẫu có chán với chốn quan trường, thấu rõ nhân tình thế thái nhưng ông không bi quan, nản chí; luôn sống tích cực, nhập thế hành động vì cuộc đời, vì con người. Dù ở cương vị nào, ông cũng làm tròn chức phận của một vị quan “thanh, cần, thận, trực”,  “trung, dũng, trí, tín”; luôn giữ trọn nhân cách của một bề tôi “trung quân, ái quốc”. Vì vậy, sau gần ba mươi năm tham chính, ông vẫn khảng khái tự hào khi "Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo", về quê trí sĩ, gác bỏ việc đời, ngao du sơn thủy, sống trong cảnh an nhàn của một kẻ sĩ lãng tử, tài hoa.

Văn võ song toàn

Nguyễn Công Trứ là người đa tài, ở phương diện nào cũng để lại dấu ấn đậm nét và có những đóng góp quan trọng. Nhân cách của ông là một chân dung thống nhất trong đa dạng: một nhà thơ có phong cách độc đáo, một văn quan phóng túng nhưng luôn lấy phép công làm trọng, một võ tướng dày dạn trận mạc, một nhà khẩn hoang với nhiều công trạng.

 

Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ  tại Ninh Bình thu hút nhiều du khách tham gia 

Nguyễn Công Trứ là quan văn nhưng khi làm võ tướng cầm quân, ở đâu ông cũng thể hiện tài thao lược và giành nhiều chiến công. Ông đã giúp triều Nguyễn dẹp yên nhiều cuộc khởi nghĩa lớn, giữ vững chủ quyền lãnh thổ và bình ổn đất nước, thăng đến chức Binh Bộ Thượng Thư kiêm nhiệm Tổng đốc Hải An.

Năm Minh Mạng thứ 21 (1840) nhà vua Nhà Nguyễn phái Nguyễn Công Trứ sang Chân Lạp (Campuchia) để bình định vùng đất này. Tại đây, ông cùng với Trương Minh Giảng đổi Chân Lạp thành Trấn Tây Thành và chia ra làm 32 phủ, 2 huyện. Sau đó, ông cùng một số vị tướng khác cầm quân dẹp tan cuộc xâm nhập lãnh thổ Việt Nam của quân Xiêm; đánh tan liên quân Xiêm - Chân Lạp, giữ yên bờ cõi.

Trên cương vị quan Dinh Điền sứ, Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ đã tự mình lặn lội tìm hiểu vùng đất Nam Định, Ninh Bình. Năm Mậu Tý (1828), Nguyễn Công Trứ đi kinh lý khắp bãi bồi duyên hải, tự vẽ bản đồ, cấp phát trâu bò, nông cụ cho dân để khẩn hoang. Chỉ trong 2 năm, ông đã đứng ra chiêu tập lưu dân khai phá đất hoang lập nên huyện Tiền Hải (Thái Bình) rộng 18.970 mẫu ruộng, huyện Kim Sơn (Ninh Bình) được 14.600 mẫu và hai tổng Hoành Thu và Ninh Nhất (ven bờ biển Thái Bình, Ninh Bình). Nhờ đó, những vùng đất hoang vắng, chua phèn này dần trở thành các làng xóm đông vui, đồng điền bát ngát với hệ thống kênh mương, đường sá thuận lợi cho cuộc sống và sản xuất của nhân dân trong vùng.

Thời gian giữ chức Binh Bộ Hữu Tham Tri, kiêm thư Tổng đốc Hải An (gồm tỉnh Hải Dương và Quảng Yên), Tổng đốc Hải An, được Triều đình chấp thuận, Nguyễn Công Trứ huy động lính thú (lính biên phòng) ở Quảng Yên, lính cơ (lính gác dinh thự) ở Hải Dương, và lính lệ (lính hầu ở các dinh quan) cùng tham gia khai khẩn. Nhờ vậy, một loạt làng mới xuất hiện, một số đồn điền được hình thành, đất đai canh tác được mở rộng như làng Minh Liễn (Hải Dương); làng Lưu Khê, Vị Dương, An Phong (Quảng Yên).

Họp báo kỷ niệm 240 năm ngày sinh, tưởng niệm 160 năm ngày mất của danh nhân Nguyễn Công Trứ tại Hà Tĩnh 

Từ năm 1838 - 1839, Nguyễn Công Trứ đã chiêu dụ người gốc Hoa khai khẩn được trên 700 ha, lập thành làng Hưng Hóa. Ông còn có sáng kiến đề xuất lập nhà học, xã thương ở nông thôn để nâng cao dân trí và lưu thông hàng hóa. Về sau khi đảm trách việc quan ở miền Tây Nam, ông lại hợp sức với quan quân, dân chúng địa phương, đào kênh rạch, làm thủy lợi dẫn nguồn nước ngọt Cửu Long về đồng ruộng.

Những đóng góp của ông trong lĩnh vực kinh tế - thuỷ nông được đông đảo nhân dân, nhất là tầng lớp nghèo khổ vô cùng biết ơn, cảm phục, quý trọng, tôn thờ như một phúc thần, thành hoàng làng. Nhân dân ở xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn (Ninh Bình); ở thôn Đông Quách, xã Nam Hà, thôn Thủ Chính, xã Nam Chính huyện Tiền Hải (Thái Bình)… đã lập đền thờ khi ông còn sống.

Nguyễn Công Trứ không chỉ là một nhà kinh luân lỗi lạc, nhà quản trị giàu năng lực, vị tướng tài, ông còn là một nhà thơ, một nghệ sĩ lớn. Ông sáng tác nhiều thơ Nôm theo thể Đường luật và Hát nói, hiện còn khoảng 150 bài. Ông là một nhà thơ, một nghệ sĩ đa tài. Bằng cá tính sáng tạo của mình, ông trở thành một hiện tượng độc đáo trong lịch sử văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX.

Tuy Ca Trù đã có từ cuối thế kỷ XV nhưng thể loại này không phát triển. Nguyễn Công Trứ đã biến Ca Trù từ một lối hát nhỏ lẻ thành một thể thơ thuần Việt. Đặc biệt, với 60 bài Hát Nói của mình, Nguyễn Công Trứ trở thành người định hình và đưa thể Hát nói - một thể đặc sắc trong Ca Trù thành loại hình nghệ thuật độc đáo của Việt Nam.

Với những công lao và đóng góp to lớn cho lịch sử, văn hoá dân tộc, tên tuổi của Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ đã lưu danh cùng sử sách; được nhiều địa phương trên cả nước đặt tên cho các ngôi trường, các tuyến đường. Năm 1991, Khu di tích Nhà thờ và Mộ Nguyễn Công Trứ tại xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh được xếp hạng Di tích Lịch sử cấp quốc gia.

Ngày 15/12 tới đây, tỉnh Hà Tĩnh sẽ tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm  240 năm ngày sinh, và tưởng niệm 160 năm ngày mất của danh nhân Nguyễn Công Trứ

Khắc Hiển

(Theo tài liệu của BTG Tỉnh uỷ Hà Tĩnh)