Điều chỉnh kích thước chữ

"Nhờ làm báo, tôi có hai lần vinh dự được gặp Bác..."

(CLO) Trong cuộc đời làm báo của tôi có đến 28 năm gắn bó với quân đội. Cũng chính môi trường đó đã tạo cơ hội “Có một không hai” cho tôi vinh dự được gặp Bác Hồ, được nghe Người căn dặn về nghề và vì thế càng hiểu hơn về tầm vóc vĩ đại của Bác.

Báo nói Công luận

Tháng Tư năm 1963, đang là học sinh của trường Sĩ quan Lục quân (nay là Trường Sĩ quan Lục quân I) ở Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây, tôi được Ban Giám hiệu điều động lên bổ sung vào Đài Truyền thanh nhà trường, trực thuộc Phòng Chính trị.

Ảnh Tư liệu

Ảnh Tư liệu

Chỉ mấy hôm sau, vào một buổi sáng, tôi đang ngồi sửa lại tin bắn đạn thật của các học viên quân đội nước ngoài trực thuộc Tiểu đoàn I thì được anh Sĩ Cầm, sếp trực tiếp của Đài, ghé tai nói nhỏ: Bác sắp lên thăm trường. Tôi cùng anh Văn Dinh, chị Như Hoa được cử đi theo làm tin, bài phản ánh chuyến đi của Bác. Tin vui đến quá đột ngột làm tôi bàng hoàng, sửng sốt phải hỏi lại anh Cầm đến vài lần mới biết đó là thật.

Thời tiết Sơn Tây mới đầu hè mà oi ả đến khó chịu. Cùng mọi người ứng chực ở ngoài cổng gác chỉ mới vài chục phút mà tôi đã nhễ nhãi mồ hôi.Tuy vây, niềm vinh dự, háo hức được đón Bác kính yêu làm cho ai nấy dường như quên cả nắng nóng.

Đúng 8 giờ 30 phút, đoàn xe chở Bác và các đồng chí trong đoàn từ từ tiến vào cổng trường. Cùng đi có Đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp, Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng, đồng chí Vũ Kỳ - Thư ký của Bác cùng nhiều đồng chí khác.

Sau nghi lễ duyệt đội danh dự nhà trường, Bác bắt tay chào hỏi lãnh đạo nhà trường, tươi cười vẫy tay chào mọi người, rồi bất ngờ Người đi thẳng xuống lớp mẫu giáo và xem nơi ăn ở của sinh viên. Bác ân cần thăm hỏi sức khoẻ, công việc của các cô giáo rồi tự tay chia kẹo cho từng cháu. Thấy các sinh viên trẻ của trường đứng vòng ngoài vươn tay vào xin kẹo, Bác cười bảo: “Đây là phần của các cháu nhỏ. Còn các chú bộ đội muốn ăn thì ra phố mà mua, ngoài đó bán nhiều lắm!” Nghe vậy, tất cả đều cười vang.

(Ảnh tư liệu)

(Ảnh tư liệu)

Khi đoàn đi thăm nhà ăn, thấy tôi và chị Như Hoa lỉnh kỉnh dây nhợ, micrô, vai trĩu nặng máy ghi âm ( loại dùng băng Cat –séc, to đùng ngày xưa). Bác hỏi: “ Nhà báo à?” Rồi Người ân cần vỗ vỗ vào vai tôi. Tôi cảm động, sung sướng quá, không biết nói sao. May có Đại tá Mạnh Quân – Phó Hiệu trưởng chạy lại, giới thiệu: “Thưa Bác, hai đồng chí này là phóng viên của Đài truyền thanh nhà trường ạ !”

Bác thân mật hỏi han sức khoẻ, nội dung, chương trình phát của Đài, rồi căn dặn: Nhà trường có hệ thống truyền thanh để thông tin Chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, thông tin hoạt động của trường cho sinh viên là rất tốt. Đặc biệt trường ta có nhiều sinh viên là quân đội của các nước bạn nên các cháu phải gắng học thêm ngoại ngữ để có điều kiện giao lưu, trao đổi và phản ánh tình hình học tập của các bạn quốc tế lên Đài. Như thế, các bạn ấy sẽ phấn khởi và gắn bó với Đài nhà trường hơn.

Lời dặn dò chí lý của Bác trở thành quyết tâm phấn đấu của đời tôi. Sau này, khi trở thành nhà báo chuyên nghiệp của quân đội, mặc dù những năm 70 chiến tranh ác liệt, sống trong cơ chế bao cấp thiếu thốn đủ điều, nhất là giáo trình, sách vở để học ngoại ngữ, tôi và các đồng nghiệp của tôi vẫn cố vượt qua mọi khó khăn để theo học lớp tiếng Anh do Hội Nhà báo Việt Nam, phối hợp với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức. Nhờ sự chỉ bảo ân cần, dạy dỗ hết lòng của các giáo sư Bùi Ý, Bùi Phụng …tôi cùng rất nhiều phóng viên trẻ của các tờ báo lớn ở Hà Nội đã hoàn thành xong chương trình với tấm bằng tốt nghiệp loại ưu. Quả thật, tiếng Anh, tiếng Nga thời bấy giờ đã giúp chúng tôi vượt qua rào cản ngôn ngữ mỗi khi tiếp xúc với các đồng nghiệp và bạn bè quốc tế.

Lần thứ hai tôi được gặp Bác là vào năm 1969. Năm này là một năm đã đi vào lịch sử nước ta như một trang sử buồn. Như chúng ta đã biết, dịp kỷ niệm 79 năm ngày sinh của Bác (19/5/1969) sức khoẻ của Bác xấu đi rất nhiều, đặc biệt là họng có vấn đề. Đến nỗi, trước đó, Bác phải nhờ đến sự chữa trị tích cực của Giáo sư Trần Hữu Tước và tập luyện giọng suốt cả tuần liền, mới đọc được một cách trôi chảy, rõ ràng lời chúc mừng năm mới trên Đài, trong đó, điểm nhấn là câu kết: “Tiến lên chiến sỹ, đồng bào/ Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!”

Dù sức khoẻ như vậy, song việc đến thăm Hội nghị cán bộ cao cấp toàn quân lần này với Bác là rất hệ trọng. Sau khi nhận lời đề nghị của Đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp, Bác bàn bạc với cấp dưới và anh em phục vụ làm sao để sự xuất hiện của Bác làm cho các tướng lĩnh, chỉ huy ở các chiến trường về đều an lòng khi thấy Bác vẫn khoẻ mạnh. Một kế hoạch “nghi binh, nghi tướng” được đặt ra rất tỉ mỉ. Bác giao anh Vũ Kỳ đi khảo sát trận địa trước. Thấy địa điểm Bác gặp gỡ chỉ cách nhà sàn Bác ở khoảng 300 mét, anh Vũ Kỳ đề xuất bí mật đưa Bác vào cửa này làm cho mọi người bị bất ngờ khi chỉ chăm chăm nhìn ra cửa chính.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp tại Hội nghị cán bộ cao cấp toàn quân, ngày 11-5-1969 (Ảnh tư liệu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp tại Hội nghị cán bộ cao cấp toàn quân, ngày 11-5-1969 (Ảnh tư liệu)

Đúng thế. Lúc 16 giờ 15 phút ngày 11/5/1969, trong lúc mọi người, kể cả cánh nhà báo bọn tôi, đang dán mắt, nhón chân, dương máy “đón lỏng” phía cửa chính hội trường thì anh Vũ Kỳ đã dắt Bác bí mật bước vào tấm rèm cửa phía sau, đỡ Người ngồi ngay ngắn vào chiếc ghế dành sẵn chính giữa, bên cạnh các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng. Khi chờ mãi không thấy Bác đâu, các tướng lĩnh, phóng viên quay vào hội trường thì bỗng dật mình, Người đã ngồi ở đó. Từ chỗ ngạc nhiên, im ắng, bỗng cả phòng họp vang lên tiếng hô: “Hồ Chủ tịch muôn năm!” cùng với những tràng pháo tay như sấm dậy.

Đưa cặp mắt hiền từ nhìn khắp lượt, Bác thân mật hỏi thăm: “Các chú có khoẻ không?”

- Thưa Bác, chúng cháu khoẻ cả ạ!

- Có vui không?

- Thưa Bác, vui lắm ạ

- Thế là tốt. Vậy các cháu vỗ tay đi!

Cả hội trường lại được dịp rền vang những tràng pháo tay phấn chấn, vui mừng, bởi ai cũng thấy Bác khoẻ và rất vui.

Thiếu tướng Vương Thừa Vũ - Tổng Tham mưu phó,  thay mặt anh em mang hoa lên chúc nhân dịp gần đến ngày sinh của Bác. Bác tươi cười, tự tay rút ra một bông hồng đẹp nhất tặng lại tướng Vũ với cử chỉ thật âu yếm của một người cha đối với những đứa con yêu quý của mình. Bác hỏi chuyện các đồng chí ở Việt Bắc, các đồng chí ở quê miền Nam, số tướng lĩnh, sỹ quan đã từng tham giá chiến dịch Điện Biên Phủ, đoạn Bác quay xuống mọi người, nói: Mấy hôm nay nghe tin đồng bào và chiến sỹ miền Nam đánh mạnh, thắng to, Bác càng thấy khoẻ trong người. Bác giải thích về thế và lực giữa ta và địch rất cụ thể, ngắn gọn, dễ hiểu, cuối cùng rút ra kết luận: Thế địch thua đã rõ ràng, nhất định chúng sẽ hoàn toàn thất bại. Rồi Bác nhắc nhở: Nói thế nhưng không được chủ quan, thoả mãn. Đế quốc Mỹ còn rất ngoan cố, chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta. Quân và dân cả nước ta còn phải vượt qua nhiều hy sinh gian khổ mới đi tới thắng lợi cuối cùng.

Cuộc gặp mặt sắp kết thúc một cách trọn vẹn. Anh Vũ Kỳ đang đau đầu nghĩ một kế sách gì để mọi người không thấy được Bác đi lại đã yếu, phải có người đi kèm dắt dìu bên cạnh. Bổng nghe Bác hô to: “Tất cả đứng dậy!” Cả hội trường nhất loạt xô ghế đứng cả dậy nhìn lên phía Bác như chờ đợi một điều gì. Bất ngờ hơn khi Bác hô tiếp: “Đằng sau quay. Đi đều bước!”

Ôi chao! Thật tuyệt vời, Bác của chúng ta! Gần 80 tuổi mà vẫn ứng xử linh hoạt biết bao. Trong lúc mọi người đang lo quay đằng sau và đi đều ra cửa chính hội trường, tôi dơ vội chiếc máy ảnh Zen – nít lên phía Bác, định bấm mấy kiểu, bổng khựng lại khi thấy Người đi rất khó khăn, hầu như phải dựa cả vào anh Vũ Kỳ. Một nỗi lo lắng mơ hồ khiến nước mắt tôi chợt trào ra và nghe tim mình nhoi nhói…

Không ai ngờ được, đó là buổi gặp gỡ cuối cùng của Bác đối với quân đội thân yêu của mình. Chưa đầy 4 tháng sau, Bác đã tìm về “cõi hiền” với các cụ Lê-nin, Các-mác!

Khắc Hiển