Điều chỉnh kích thước chữ

Siêu ủy ban và câu chuyện "loay hoay" khoảng trống pháp lý

(CLO) Thành lập một uỷ ban quản lý vốn nhà nước là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước với những kỳ vọng mở ra hướng phát triển tốt cho doanh nghiệp, đồng thời cũng là "chiếc máy soi" chống lợi ích nhóm, tham nhũng tiêu cực, lạm dụng chức vụ quyền hạn đối với các tập đoàn, tổng công ty.

Báo nói Công luận

Tuy nhiên, hơn một năm chuyển từ các bộ chủ quản về Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (UBQLV còn được gọi là “siêu ủy ban”), các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) lớn vướng hàng loạt khó khăn, thậm chí có đơn vị “tha thiết” xin chuyển về cơ quan chủ quản cũ.

Đây chưa thể là thước đo hiệu quả hoạt động của Ủy ban vốn còn "non trẻ" với nhiều bỡ ngỡ ban đầu khó tránh khỏi. Nhưng rõ ràng, qua quá trình thực hiện đang cho thấy những vướng mắc về chính sách, pháp luật và cần thiết phải có những "liều thuốc" để tháo gỡ kịp thời.

Xin nhắc lại chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc làm việc của Thường trực Chính phủ với Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp sau 10 tháng cơ quan này hoạt động (Siêu ủy ban chính thức ra mắt ngày 30/9/2018). Thủ tướng cho rằng, 2 việc cấp bách mà Uỷ ban Quản lý vốn cần rút kinh nghiệm sau 10 tháng hoạt động, là phối hợp chặt chẽ, tháo gỡ ngay khó khăn, vướng mắc trong xử lý các vấn đề của 19 tập đoàn, tổng công ty được giao về Uỷ ban này. Ngoài ra, cần kiện toàn tổ chức, tiếp tục nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Ủy ban.

“Ủy ban Quản lý vốn không thể là cơ quan quan liêu kiểu cũ, không thể là một cấp hành chính tạo gánh nặng, mà cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển tốt hơn nữa", Thủ tướng nói và lưu ý, trong kinh tế thị trường thời cơ là quan trọng, do đó, Ủy ban cần trả lời nhanh, quyết đáp nhanh những vấn đề tập đoàn, tổng công ty xin ý kiến.

Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu Uỷ ban cần chủ động hơn, đổi mới cách làm trong xử lý các vấn đề cụ thể của các tập đoàn, tổng công ty. "Trách nhiệm của “siêu ủy ban” là phối hợp chặt chẽ, tạo mọi điều kiện phát triển, nhưng tăng cường kiểm tra, giám sát, không để xảy ra thất thoát vốn, tài sản Nhà nước trong quá trình hoạt động kinh doanh, quá trình sắp xếp cổ phần hóa, thoái vốn Nhà nước. Phải chống lợi ích nhóm, tham nhũng tiêu cực, lạm dụng chức vụ quyền hạn đối với các tập đoàn, tổng công ty", Thủ tướng nhắc nhở, đồng thời nhấn mạnh Chính phủ, các bộ cần có cơ chế phân cấp mạnh hơn cho tập đoàn, tổng công ty trên cơ sở đề nghị của Ủy ban. Cùng đó, cơ quan này cần tập trung vào kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả, "giao quyền phải đi liền với trách nhiệm".

Ảnh Vietnamnet

Ảnh Vietnamnet

Tuy nhiên, 7 tháng sau, tại cuộc làm việc ngày 20/2/2020 của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ đã giao Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp vẫn bộc lộ hàng loạt khó khăn, bất cập, những "nút thắt" về mặt chính sách, pháp luật chưa được tháo gỡ. Đồng nghĩa với nhiều tập đoàn, tổng công ty đang cảm thấy “mắc kẹt” tại “siêu ủy ban” với hàng loạt vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Câu chuyện về Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) muốn quay về bộ chủ quản cũ là một điển hình. Tại cuộc làm việc của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ đã giao Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp ngày 20/2, ông Vũ Anh Minh, Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Đường sắt (VNR), cho biết: Thời điểm trước khi Tổng công ty chưa chuyển về Ủy ban, việc giao dự toán ngân sách hàng năm được Bộ Giao thông vận tải giao về trước tháng 12. Sau đó, Tổng công ty sẽ đặt hàng dịch vụ công ích với 20 công ty trực thuộc để thực hiện, đảm bảo an toàn chạy tàu (gồm: tuần đường, gác chắn, duy tu, bảo trì, sửa chữa nhỏ,... ).

Sau khi Tổng công ty Đường sắt chuyển về Ủy ban Quản lý vốn nhà nước, Bộ GTVT không thể thực hiện việc giao dự toán ngân sách theo cơ chế trên do vướng Điều 49, Luật Ngân sách Nhà nước về phân bổ và giao dự toán ngân sách nhà nước do Tổng công ty này không phải là đơn vị thuộc Bộ.

Từ ngày 1/1/2020, 20 doanh nghiệp công ích thuộc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam đang thực hiện dịch vụ công ích mà không được ký kết hợp đồng. “Trên 1 vạn người không có tiền lương, chỉ có thể dừng tàu thôi. Nhưng cho chạy tàu thì sai luật, không cho chạy tàu cũng sai”, ông Minh băn khoăn.

Tuy nhiên, trả lời trong buổi họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 2/2020 chiều qua (3/3), bà Nguyễn Thị Phú Hà, Phó Chủ tịch Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp cho rằng: Thực hiện Nghị định 131/2018/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 29/9/2018 là 19 tập đoàn, tổng công ty được bàn giao nguyên trạng từ 5 bộ về Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Trong quá trình triển khai thực hiện, Ủy ban nhận được biên bản bàn giao từ các bộ về có 259 nhiệm vụ dở dang, trong đó còn rất nhiều nhiệm vụ theo nguyên tắc phải triển khai thực hiện từ các cơ quan chủ sở hữu đã thông qua, phê duyệt trước năm 2017, tức là trước khi được chuyển về Ủy ban. Trong năm 2019, có rất nhiều nhiệm vụ là triển khai thực hiện trước năm 2017 nhưng chưa được các cơ quan đại diện chủ sở hữu triển khai, trong đó có một số dự án lớn. Trong quá trình triển khai thực hiện đến thời điểm triển khai có dự án triển khai cách đây 10 năm, 20 năm, đến nay có vấn đề nảy sinh.

Theo nguyên tắc khi chuyển giao cần chuyển giao nguyên trạng. Qua quá trình triển khai thực hiện, thấy rằng trước kia trong trình tự, thủ tục phê duyệt các dự án của các doanh nghiệp, do vướng các dự án đầu tư công nên một số quy trình, trình tự, thủ tục chưa rõ. Liên quan đến một số dự án sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước, trong quá trình triển khai thực hiện, thẩm quyền phê duyệt dự án thì có dự án thẩm quyền thuộc Thủ tướng, có dự án thuộc thẩm quyền của địa phương, có dự án thẩm quyền liên quan đến cơ quan đại diện chủ sở hữu. Trong quá trình triển khai thực hiện có những dự án trong khối doanh nghiệp đôi khi thực hiện theo một số quy định của luật chuyên ngành. Khi về Ủy ban thì cũng chiếu theo những quy định, trình tự, nếu thấy không phù hợp, đánh giá xác định dự án không hiệu quả thì Ủy ban sẽ yêu cầu làm rõ những nội dung này. Khi nào đưa ra phương án phù hợp thì mới có căn cứ trình các cấp thẩm quyền cũng như thực hiện trình tự thủ tục theo đúng pháp luật.

Đang có 5 tập đoàn, tổng công ty sử dụng vốn ngân sách nhà nước như Tập đoàn Điện lực Việt Nam, quản lý liên quan đến việc chuyển tải điện cũng là kết cấu hạ tầng công, tài sản chung của quốc gia thì hiện nay vốn ngân sách nhà nước vẫn đang giao về Tập đoàn để triển khai các dự án đầu tư cũng như các dự án liên quan về công tác chuyển tải, nối điện về nông thôn. Đồng thời Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp cũng vẫn bố trí vốn cho các dự án của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và một số dự án thuộc Tổng Công ty Thuốc lá…

Nhưng có 2 đơn vị là Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam và Tổng Công ty Đường cao tốc Việt Nam, từ trước đến nay được giao vốn qua Bộ GTVT, với các dự án có liên quan đến công tác bảo trì, bảo dưỡng. Về vận tải đường sắt mặc dù Tổng Công ty đã về Ủy ban từ tháng 10/2018, nhưng kế hoạch năm 2019 vẫn là do Bộ GTVT giao vốn bình thường. Tuy nhiên, liên quan đến bảo trì kết cấu hạ tầng, yêu cầu đặt ra là theo cơ chế đặt hàng. Ở đây có 2 luồng ý kiến là vẫn triển khai như những năm trước và luồng thứ hai là theo cơ chế đặt hàng. Nhưng nếu thực hiện theo cơ chế đặt hàng thì dù ở Ủy ban Quản lý vốn hay Bộ GTVT, vẫn phải thực hiện theo cơ chế chung.

Liên quan đến những bất cập mà VNR phản ánh, ông Nguyễn Đức Kiên, Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng cho rằng, vướng mắc là do VNR chứ không phải của các bộ, ngành, cơ quan có liên quan. “Từ khi chuyển về UBQLV, VNR không thay đổi để phù hợp với các quy định mới. Họ không đổi mới mô hình tổ chức theo các quy định của luật mà lại muốn sửa luật để phù hợp với chính hoạt động của họ”, ông Kiên nói.

Theo ông Kiên, vướng mắc trong việc giao vốn không phải từ Bộ GTVT xuống VNR mà là vướng từ VNR xuống 20 công ty “con”. 20 công ty này là các công ty cổ phần nên theo quy định của pháp luật phải tổ chức đấu thầu, trong khi đó VNR lại muốn “có quyền” giao vốn cho các đơn vị trên.

Chưa bàn đến chuyện đúng sai trong câu chuyện của Tổng công ty đường sắt nhưng rõ ràng, khó khăn về các thủ tục pháp lí cũng đang "đe dọa" hoạt động kinh doanh của nhiều doanh nghiệp, tập đoàn khác kể từ khi về "ngôi nhà mới" - Siêu ủy ban. Dự án “xuyên thập kỉ” không được cấp giấy phép xây dựng của Vietnam Airlines là một ví dụ. 

Theo lãnh đạo Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines), không chỉ ảnh hưởng nặng đến hoạt động kinh doanh bởi dịch Sars- CoV- 2 do lượng khách đi nước ngoài từ Việt Nam giảm trung bình 50% so với cùng kỳ. Lượng khách trong nước giảm trên dưới 50%. Khu vực Bắc Á, đặc biệt là Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông giảm 80-100%. Khách từ Nhật Bản đang lao dốc mạnh, giờ giảm 50% nhưng thời gian tới có thể giảm 70% mà những vướng mắc về thủ tục trong phê duyệt dự án đầu tư đang khiến doanh nghiệp rơi vào trạng thái đình trệ. Cụ thể, Vietnam Airlines đã trình phương án đầu tư máy bay 2 năm nay, nhưng UBND TP. Hà Nội chưa trình lên Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

“Thời kỳ trước, từ lúc chúng tôi lập dự án đến lúc trình Thường trực Chính phủ, dài nhất là mất 6 tháng, ngắn nhất là 3 tuần. Còn bây giờ trình 2 năm rồi không thấy chỗ nào cả”, vị lãnh đạo này cho biết.

Một ví dụ khác được lãnh đạo Vietnam Airlines dẫn chứng liên quan đến vướng mắc thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng ở khu vực sân bay. Tổng công ty đã lập dự án đầu tư xây dựng cơ sở sửa chữa, bảo dưỡng tàu bay từ 2010, nhưng 10 năm qua dự án đã “xuyên thập kỉ” mà không được cấp giấy phép xây dựng. Vietnam Airlines đã hỏi từ UBND TP. Hà Nội đến Bộ Xây dựng, rồi nhiều cơ quan khác nhưng vẫn “giậm chân tại chỗ”.

Câu chuyện "vướng" của Tổng Cty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) cũng không khác là bao. Theo lãnh đạo VEC, sau khi chuyển về UBQLV, các dự án cao tốc dở dang của VEC đã gặp nhiều vướng mắc. Các vướng mắc này cũng chủ yếu liên quan tới phần vốn ngân sách cho các dự án, tương tự như ngành đường sắt. Điển hình là dự án cao tốc Bến Lức - Long Thành, cách đây ít ngày, VEC đã báo cáo Chính phủ cho tạm dừng xây dựng tới khi có vốn để tránh phát sinh các rủi ro pháp lý. Cùng đó, dự án cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi còn một số công việc dở dang (như đường gom, nút giao) bị đình trệ do thiếu vốn.

Từ năm 2019, VEC đã báo cáo các cấp có thẩm quyền về vướng mắc, đề xuất giải pháp, đặc biệt về vốn đối ứng từ ngân sách, gia hạn các hiệp định vay nước ngoài hết hạn. Tuy nhiên, tới nay vẫn chưa được tháo gỡ. Thậm chí, VEC đề xuất cho sử dụng tiền thu được từ thu phí các cao tốc đang khai thác để xử lý các dự án đang đầu tư, nhưng chưa được cơ quan nào quyết định.

Ông Nguyễn Đức Chi, Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) cho rằng, nhiều kiến nghị, vướng mắc không được giải quyết. Các văn bản trả lời thường chiếu theo quy định pháp luật, thậm chí trích điều luật này điều luật kia rồi yêu cầu làm đúng theo quy định pháp luật.

Bình luận về sự việc, một số chuyên gia kinh tế cho rằng: Theo thống kê của Vụ Tổng hợp của VPCP, có 10/13 tập đoàn, tổng công ty nêu 91 kiến nghị, gồm 65 kiến nghị với Chính phủ, Thủ tướng và 26 kiến nghị với Ủy ban. Dù vậy, với một đơn vị mới vận hành hơn 1 năm, có mô hình đặc thù, khác biệt với nhiều bỡ ngỡ ban đầu là khó tránh khỏi và đây chưa thể là thước đo hiệu quả hoạt động của Ủy ban. Nhưng rõ ràng, câu chuyện của Tổng công ty đường sắt và các doanh nghiệp khác cho thấy hành lang pháp lý cho việc hoạt động của một cơ quan mới như Ủy ban đang có vấn đề vướng mắc.

Nghị định số 131/2018/NĐ-CP của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban chưa "phủ" được hết những khó khăn này, khiến Ủy ban hoạt động trong tình thế thiếu "cây gậy pháp lý" rõ ràng, vững chắc. Đồng nghĩa, những khoảng trống pháp lý phải được lấp đầy, tức cần những bản kiến nghị giải pháp cấp bách trong đó chủ yếu liên quan đến Luật Đầu tư, Luật số 69, Luật Xây dựng... Nghị quyết về việc xử lý các vướng mắc trong hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp thuộc Ủy ban. Ngoài ra, cán bộ của Ủy ban phải tinh nhuệ và dám chịu trách nhiệm…có như vậy Siêu Uỷ ban mới có cơ để hoạt động hiệu quả theo đúng mục đích, mong muốn ban đầu khi thành lập.

Đồng quan điểm trên, TS Nguyễn Đình Cung - Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế T.Ư, "Cha đẻ" của của đề án thành lập UBQLV cho rằng, một khi tư duy thay đổi thì hành động mới thay đổi, nếu vẫn còn vương vấn tư duy kế hoạch hóa tập trung với hành chính quan liêu, chưa dứt khoát, còn dùng dằng thì không thể chuyển động được.

Theo ông Cung, nhân sự của Ủy ban cũng phải có tầm nhìn, giỏi ngang với những người giỏi nhất của các tập đoàn, tổng công ty mà mình quản lý. Mà muốn có những người giỏi như thế thì chắc chắn phải có cơ chế tiền lương theo thị trường lao động quốc tế, chứ không phải đưa những công chức từ chính quyền sang. "Ghế" ở "siêu Ủy ban" chắc chắn và không bao giờ nên là "ghế thử quyền lực".

Tại buổi làm việc với Tổ công tác của Thủ tướng, Chủ tịch Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp Nguyễn Hoàng Anh cũng thừa nhận, trong quá trình quá thực hiện thì vướng mắc lớn nhất là chính sách, pháp luật. Để khắc phục, Uỷ ban đã phối hợp với các bộ ngành để tháo gỡ, sẵn sàng nhận thêm nhiệm vụ được giao từ Chính phủ. 

Ông Nguyễn Hoàng Anh cho biết sẽ nghiên cứu thành lập hội đồng cấp cao, bao gồm lãnh đạo các tập đoàn, tổng công ty để ngồi lại với nhau hàng tháng, hàng quý, nhằm đánh giá những việc làm được, rà soát những khó khăn vướng mắc để kịp thời giải quyết.

Với những động thái quyết liệt chỉ đạo của Chính phủ, đặc biệt người đứng đầu Chính phủ - Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, hy vọng trong thời gian tới lổ hổng pháp lý sẽ được lấp đầy và những "nút thắt" giữa "siêu ủy ban" với các doanh nghiệp sẽ sớm được tháo gỡ, để tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp phát triển như kỳ vọng.

Tại cuộc họp giữa Tổ công tác của Thủ tướng với Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Siêu Ủy ban) ngày 20-2, bà Nguyễn Thị Phú Hà, Phó chủ tịch Siêu Ủy ban cũng thừa nhận, khó khăn lớn nhất hiện nay là thiếu cán bộ có năng lực, trình độ chuyên môn giỏi, có kinh nghiệm quản lý vốn.

Theo bà Hà, đến nay chưa có quy định về việc điều động cán bộ có năng lực, chuyên môn và vị trí việc làm phù hợp từ các bộ, ngành, địa phương về ủy ban vốn.

Với chức năng quản lý kinh doanh vốn nhà nước, Siêu Ủy ban phải cử cán bộ kiểm soát viên nhà nước đối với 13 tập đoàn, tổng công ty do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Nhưng đến nay, Siêu Ủy ban mới cử 21 kiểm soát viên xuống 13 tập đoàn, tổng công ty. Số lượng kiểm soát viên nhà nước hiện chưa đủ, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ kiểm soát hoạt động các tập đoàn, tổng công ty với hoạt động kinh doanh đa ngành, phức tạp. "Cần bổ sung ít nhất 25 kiểm soát viên tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước để bảo đảm hiệu quả giám sát" - bà Hà nhấn mạnh.

Thành Vinh