Điều chỉnh kích thước chữ

Tết Hàn thực với người Việt

(CLO) Tết Hàn thực là Tết mồng 3 tháng 3 Âm lịch. Hàn thực nghĩa là ăn đồ lạnh. Tết truyền thống này xuất hiện tại một số tỉnh của Trung Quốc, miền bắc Việt Nam và một số cộng đồng người gốc Hoa trên thế giới. Hôm nay (26/3 Dương lịch, 3/3 Âm lịch) là Tết Hàn thực, hãy tìm hiểu phong tục này.

Báo nói Công luận

Nguồn gốc Tết Hàn thực

"Hàn thực" gắn với một điển tích ở Trung Quốc: Đời Xuân Thu, vua Tấn Văn Công nước Tấn, gặp loạn phải bỏ nước lưu vong, nay trú nước Tề, mai trú nước Sở. Bấy giờ có một người hiền sĩ tên là Giới Tử Thôi, theo vua giúp đỡ mưu kế. Một hôm, trên đường lánh nạn, lương thực cạn, Giới Tử Thôi phải lén cắt một miếng thịt đùi mình nấu lên dâng vua. Vua ăn xong hỏi ra mới biết, đem lòng cảm kích vô cùng.

Sự tích “Mẹ Âu Cơ cùng bọc trăm trứng”.

Sự tích “Mẹ Âu Cơ cùng bọc trăm trứng”.

Giới Tử Thôi theo phò Tấn Văn Công trong mười chín năm trời, cùng nhau trải nếm bao nhiêu gian truân nguy hiểm. Về sau, Tấn Văn Công giành lại được ngôi báu trở về làm vua nước Tấn, phong thưởng rất hậu cho những người có công trong khi tòng vong, nhưng lại quên mất công lao của Giới Tử Thôi.

Giới Tử Thôi cũng không oán giận gì, nghĩ mình làm được việc gì, cũng là cái nghĩa vụ của mình, chớ không có công lao gì đáng nói. Vì vậy về nhà đưa mẹ vào núi Điền Sơn ở ẩn. Tấn Văn Công về sau nhớ ra, cho người đi tìm. Giới Tử Thôi không chịu rời Điền Sơn ra lĩnh thưởng.

Tấn Văn Công hạ lệnh đốt rừng, ý muốn thúc ép Giới Tử Thôi phải ra, nhưng ông nhất định không chịu tuân mệnh, rốt cục cả hai mẹ con ông đều chết cháy. Hôm mẹ con Giới Tử Thôi chết là ngày mồng 5 tháng 3. Vua thương xót, lập miếu thờ và hạ lệnh trong dân gian phải kiêng đốt lửa ba ngày, chỉ ăn đồ ăn nguội đã nấu sẵn để tưởng niệm. (khoảng từ mồng 3 tháng 3 đến mồng 5 tháng 3 Âm lịch hàng năm). Tên gọi Tết Hàn thực ra đời cũng vì lẽ ấy.  

Tết Hàn thực tại Việt Nam

Dù bắt nguồn từ một truyền thuyết của Trung Quốc nhưng khi du nhập vào Việt Nam, ngày Tết Hàn thực có ý nghĩa tâm linh khác, phong tục cúng Tết Hàn thực cũng có nhiều thay đổi để phù hợp với văn hóa của người Việt. 

Thực chất, Tết Hàn thực đã được hợp nhất với Tết bánh trôi, bánh chay, Tết tháng 3 tại Việt Nam, thể hiện rõ nét đặc trưng văn hóa, lối sống riêng của người Việt. Khác với Tết Hàn thực ở Trung Quốc, ở Việt Nam người dân không kiêng lửa, mọi việc nấu nướng vẫn diễn ra bình thường. Tết Hàn thực ở Việt Nam cúng gia tiên, chứ không ai tưởng gì đến Giới Tử Thôi.

Ở Việt Nam, Tết Hàn thực cũng xuất hiện từ rất lâu đời trong tín ngưỡng dân gian và cũng kèm theo những món ăn đặc trưng. Cụ thể là năm 1292, chính Trần Nhân Tông sai người làm một mâm bánh đem tặng… ngược lại sứ giả nhà Nguyên kèm đôi lời sau: "Múa giá chi rồi, thử áo xuân/Hôm nay Hàn thực, buổi thanh thuần/Bánh rau tinh khiết đầy mâm ngọc/Phong tục An Nam theo cổ nhân". Lời thơ trang nhã nhưng ý tứ sâu xa, rõ ràng trong mắt người Việt, Tết Hàn thực là phong tục cổ truyền gắn với ông bà tổ tiên ta.

Bánh trôi, bánh chay không thể thiếu trong ngày Tết Hàn thực.

Bánh trôi, bánh chay không thể thiếu trong ngày Tết Hàn thực.

Đoạn thơ ngắn này của Trần Nhân Tông cũng khẳng định rằng người Việt ta đã từng dùng bánh rau tinh khiết hay còn gọi là bánh cuốn ngày nay vào tiết Hàn thực khi xưa. Bánh cuốn có nhân thịt và rau tươi bên trong là tinh hoa đất trời mùa xuân-hạ, mùa màng nở rộ, mang đầy ý nghĩa tốt đẹp để thưởng thức và dâng lên gia tiên. Bánh xuất hiện từ thời Lý - Trần và được các tài liệu lịch sử cùng thời ghi nhận như biểu tượng của Tết Hàn thực: "Vào tết Hàn thực, đem bánh cuốn tặng nhau" (trích dẫn An Nam chí lược, sử gia Lê Tắc). Như vậy, có lẽ mãi đến thời Lê Nguyễn, tục bánh trôi, bánh chay mới xuất hiện, còn trước đó ông bà ta đều ăn bánh và tặng nhau bánh cuốn.

Bánh trôi, bánh chay trong Tết Hàn thực của người Việt

Trong ngày 3 tháng 3  Âm lịch, các gia đình Việt sẽ chuẩn bị bánh trôi, bánh chay để lễ Phật, cúng gia tiên, thậm chí nhiều nơi cúng thần hoàng, bày tỏ lòng thành, hướng về cội nguồn. 

Việc dùng bánh trôi, bánh chay để cúng lễ mang rất nhiều ý nghĩa tốt đẹp, là kết tinh của văn hóa Việt. 

Từ xa xưa bánh trôi bánh chay đã đi vào thơ ca dân tộc như những món ăn đặc trưng phổ biến của người Việt. Hai thứ bánh trôi và chay đều làm từ bột gạo nếp thơm. Bánh trôi nặn viên nhỏ, ngoài trắng, trong nhân đường đỏ, thả luộc trong nồi nước sôi, khi bánh nổi lên mặt nước vớt ra vừa chín tới. Còn bánh chay thì nặn tròn dẹt, không nhân, đặt lên đĩa nhỏ, khi ăn đổ nước đường lên trên.

Cả hai loại bánh đều được làm từ bột gạo nếp thơm, là thành quả lao động vất vả dâng lên ông bà tổ tiên, là hình ảnh thể hiện rõ nhất nền văn minh lúa nước lâu đời của dân tộc Việt Nam cùng với các loại bánh truyền thống khác như bánh chưng, bánh giầy,...

Đặc biệt, hình ảnh những chiếc bánh trôi, bánh chay tròn vo, trắng bóc xếp đầy cạnh nhau trên đĩa còn mang hàm ý tưởng nhớ tới sự tích “Mẹ Âu Cơ cùng bọc trăm trứng”. 

Bánh trôi tượng trưng cho 50 quả trứng nở thành 50 người con theo Âu Cơ lên rừng, bánh chay tượng trưng cho 50 quả trứng trở thành 50 người con theo cha Lạc Long Quân xuống biển, mở mang bờ cõi, xây dựng đất nước, đem lại cuộc sống ấm no. Chính vì vậy người dân Việt mới sử dụng hình ảnh bánh trôi, bánh chay để bày tỏ lòng thành, tưởng nhớ công lao của ông bà, tổ tiên vào dịp Tết Hàn thực.

Thanh Hải