Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung: Kiểm soát được COVID-19, nền kinh tế mới hồi phục bền vững

Đó là nhấn mạnh của TS. Nguyễn Đình Cung - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) trong cuộc trò chuyện cùng Báo Nhà báo & Công luận xung quanh câu chuyện phục hồi nền kinh tế trong thời gian tới.

tien si nguyen dinh cung kiem soat duoc covid 19 nen kinh te moi hoi phuc ben vung hinh 1

TS. Nguyễn Đình Cung.

Xung lực cho kinh tế Việt Nam tăng trưởng trung và dài hạn

+ Nhìn vào bức tranh toàn cảnh trong 2 năm đối mặt với đại dịch COVID-19, có thể thấy rằng, năm 2021, kinh tế Việt Nam chịu tác động mạnh hơn rất nhiều so với năm 2020. Thưa TS. Nguyễn Đình Cung, theo ông, nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng như trên?

- Theo tôi, trong 2 năm qua, tác động của đại dịch COVID-19 đối với nền kinh tế là giống nhau. Trong năm đầu tiên, do còn lúng túng khi lần đầu tiên đối mặt với thảm họa mới, Việt Nam chưa có nhiều giải pháp hiệu quả trong vấn đề vừa chống dịch, vừa tăng trưởng kinh tế. Nhưng dù sao, các đợt bùng phát dịch trong năm 2020 diễn ra ở quy mô nhỏ, sự tác động của nó không bằng các nước khác.

Sang năm 2021, đại dịch COVID-19 tiếp tục chi phối nền kinh tế. Đặc biệt, trong quý II/2021, trùng với thời điểm bùng phát dịch lần thứ 4, tăng trưởng GDP từ 7% xuống còn 2,91%, nhiều ngành dịch vụ như du lịch, nhà hàng, khách sạn,... phải ngừng hoạt động, hàng triệu người lao động mất việc làm.

Điều đáng nói, đợt bùng phát này “đánh” trực diện vào khu kinh tế trọng điểm phía Nam, trong đó TP.HCM, “đầu tàu” kinh tế của cả nước là địa phương chịu thiệt hại nặng nhất.

Để phòng chống dịch, các địa phương đã phải phong tỏa, giãn cách xã hội trong thời gian 2 tháng, dài gấp đôi, thậm chí gấp 3 lần các đợt bùng phát dịch bệnh lần trước. Quy mô giãn cách cũng rất rộng và chưa từng có tiền lệ trong lịch sử. Đây chính là một trong những nguyên nhân khiến năm 2021 khó khăn hơn năm trước đó.

+ Vì sao ngay từ cuối năm trước, ông đã đánh giá tăng trưởng GDP năm 2021 ở mức thấp?

- Thứ nhất, tôi căn cứ vào sự suy giảm của tổng cầu tiêu dùng. Trên thực tế, cầu bên ngoài căn bản rất rất tốt, nhưng tiêu dùng trong nước mới là vấn đề. Tổng cầu tiêu dùng trong nước đã giảm 2 năm nay, và tiếp tục tụt sâu và âm trong giai đoạn bùng phát dịch bệnh. Ngay cả trong tháng 10, dù có cải thiện, nhưng vẫn chưa thật sự khả quan.

Tổng cầu giảm vì người dân mất thu nhập, hàng triệu người lao động mất việc làm. Thu nhập giảm, thì phải giảm chi tiêu, phải sống bằng tài trợ hay tiền tiết kiệm của họ trong nhiều năm, phải lấy của để dành ra chi tiêu. Như vậy, nếu tổng cầu nội địa không được cải thiện, Việt Nam sẽ phải đối mặt với tăng trưởng âm là điều dễ hiểu.

Thứ hai, nhìn về phía đầu tư, cả đầu tư tư nhân, Nhà nước và nước ngoài đều giảm. Trước khi đại dịch, đầu tư Nhà nước tăng 7%, FDI tăng 10%-11%/năm, tư nhân trong nước tăng 15%-17%, nhưng hiện nay, tăng trưởng đầu tư toàn xã hội chỉ khoảng 3%, chỉ bằng 1/3 của thời kỳ trước dịch.

Thứ ba, thời điểm này, Việt Nam vẫn phải đối mặt với di chứng của hậu COVID-19, như thiếu lao động, thiếu đơn hàng, chưa thể nối lại chuỗi cung ứng, cùng với đó chi phí sản xuất tăng lên. Tất cả các điều này đều tác động tới các vùng kinh tế trọng điểm. Đặc biệt, GDP của Hà Nội quý III là âm 7,5%, TP.HCM là âm 24%-25%. Như vậy, có thể thấy, nền kinh tế chúng ta cả cầu và cung đều giảm.

+ Ông đánh giá triển vọng phục hồi của kinh tế Việt Nam trong trung và dài hạn ra sao?

- Theo tôi, cả trung và dài hạn, triển vọng phục hồi và tăng trưởng của Việt Nam vẫn phụ thuộc chủ yếu vào việc kiểm soát dịch bệnh. Nếu kiểm soát được, thì quá trình phục hồi mới bền vững, không trồi sụt.

“Điểm sáng” của kinh tế Việt Nam là Chính phủ đã thay đổi cách nhìn về phương án chống dịch. Thay vì chống dịch cực đoan như trước, Việt Nam đã bắt đầu “sống chung với đại dịch”, các địa phương chưa thể mở cửa như trước, nhưng bắt đầu mở cửa một phần, cởi trói cho doanh nghiệp hoạt động trở lại.

tien si nguyen dinh cung kiem soat duoc covid 19 nen kinh te moi hoi phuc ben vung hinh 2

Cần có thể giải pháp để tăng tổng cầu nội địa

+ Trong 2 năm qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Thế nhưng, một số chính sách tồn tại nhiều bất cập. Ông có thể phân tích rõ hơn về điều này?

- Về các chính sách hỗ trợ của Chính phủ, tôi chia làm 3 chính sách chính, bao gồm tài khóa, tiền tệ và an sinh xã hội.

Đối với chính sách tài khóa, các chính sách giãn thuế, hoãn thuế không thực sự hỗ trợ nhiều cho doanh nghiệp. Bởi vì, doanh nghiệp không thực sự được hưởng, họ vẫn phải trả trong tương lai. Giải pháp này chỉ hỗ trợ thanh khoản cho doanh nghiệp trong giai đoạn khó khăn.

Hoặc trong năm 2020, Chính phủ đồng ý giảm 3% thuế môi trường cho xăng dầu, nhưng trong giai đoạn dịch bệnh phức tạp, các doanh nghiệp có hoạt động đâu, nên tác động của việc giảm thuế là không đáng kể.

Hiện tại, các doanh nghiệp được hoãn, giãn 3 loại thuế, bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp, VAT và thuế đất. Đặc biệt, các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ là đối tượng được hưởng chính sách này. Tuy nhiên, điều kiện để nhận hỗ trợ rất khó thực hiện, nếu mà có thì miễn được 2.000 tỷ đồng.

Trong khi đó, miễn thuế VAT đối với hộ kinh doanh cá thể, nhưng trong 2 quý vừa qua, họ không hoạt động, nên việc giảm thuế họ cũng không có doanh thu để hưởng.

Về chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần giảm lãi suất cho vay và cơ cấu lại nợ, nhưng các điều kiện để tiếp cận tín dụng ưu đãi cũng tương đối khó khăn.

Về chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người lao động cũng có nhiều gói hỗ trợ, nhưng tốc độ giải ngân chậm. Năm nay, mới ngân được 35,4% của gói 73.000 tỷ đồng.

Đặc biệt, gói trợ cấp người lao động mất việc được trích từ quỹ bảo hiểm tự nguyện có một số bất cập, gây ra phản ứng ngược.

Tôi cho rằng, chúng ta phải nên xem xét lại toàn bộ các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người dân, từ đó có thêm sự can thiệp kịp thời, để sự hỗ trợ này đến đúng người và đúng thời điểm.

+ Một số quan điểm cho rằng, các chính sách hỗ trợ hiện nay còn thấp và đề nghị nâng thêm gói hỗ trợ, nhất là gói hỗ trợ cho người dân chịu thiệt hại bởi đại dịch COVID-19. Ông nhận định thế nào về quan điểm này?

- Quan điểm này cũng có căn cứ. Tôi lấy ví dụ, năm ngoái, Mỹ là quốc gia chịu thiệt hại rất nặng vì đại dịch COVID-19, nhưng năm nay họ tăng trưởng rất nhanh. Không chỉ Mỹ, nhiều quốc gia khác có GDP giảm, sản xuất giảm, nhưng thu nhập của người dân không giảm.

Bởi, Chính phủ của họ đã bỏ ra gói trợ cấp khổng lồ từ nguồn ngân sách, rải tiền như trực thăng. Họ quan niệm rằng, mọi người dân đều bị tác động như nhau, nên Chính phủ bù đắp cho họ bằng tiền để duy trì cuộc sống, để tổng cầu của kinh tế không giảm.

Ngược lại, tại Việt Nam, người dân trong giai đoạn dịch bệnh, người dân tiêu cả tiền tiết kiệm, nhưng tổng cầu vẫn giảm, nếu họ không nhận được hỗ trợ đủ lớn của Chính phủ, thì tốc độ tăng trưởng không thể nhanh được.

Do đó, tôi cho rằng, Việt Nam phải tìm ra động lực thay đổi, nếu không thay đổi sẽ không mang lại nhiều hiệu quả. Không còn cách nào khác, Việt Nam cần phải có sự thay đổi về việc triển khai các gói hỗ trợ, chương trình phục hồi và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng.

+ Xin chân thành cảm ơn ông!

Hà Anh (Thực hiện)

Xem thêm

Nguồn nhân lực là 'trái tim' trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam

Nguồn nhân lực là 'trái tim' trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam

(CLO) Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, JICA cho rằng phát triển nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ là những yếu tố then chốt để nâng cao năng suất, tăng sức chống chịu và tạo động lực mới cho nền kinh tế.

Ukraine chật vật với bài toán kinh tế thời chiến

Ukraine chật vật với bài toán kinh tế thời chiến

(CLO) Chi phí chiến tranh ngày càng tăng trong khi nguồn thu ngân sách và viện trợ nước ngoài chịu sức ép, buộc Ukraine phải chật vật xoay xở nguồn lực để duy trì nền kinh tế và tài trợ cho cuộc chiến với Nga.

Biến ‘không khí’ thành tiền: Cơ hội tỷ đô từ sàn giao dịch carbon

Biến ‘không khí’ thành tiền: Cơ hội tỷ đô từ sàn giao dịch carbon

(CLO) Chính thức vận hành từ cuối tháng 6/2026, sàn giao dịch carbon tại Việt Nam được xem là bước tiến quan trọng hướng tới nền kinh tế phát thải thấp. Dù thị trường còn sơ khai, ông Nguyễn Ngọc Tùng - Giám đốc Quỹ Đầu tư VinaCarbon - nhận định nước ta có đủ tiềm năng để biến việc giảm phát thải thành nguồn giá trị kinh tế thực sự, thu hút dòng vốn lớn vào lâm nghiệp, năng lượng sạch và nông nghiệp.

Hưng Yên: GRDP tăng 11,22%, giải ngân đầu tư công đứng thứ 4 cả nước

Hưng Yên: GRDP tăng 11,22%, giải ngân đầu tư công đứng thứ 4 cả nước

(CLO) 9 tháng năm 2026, kinh tế của tỉnh Hưng Yên tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao, vượt kịch bản đề ra. GRDP của tỉnh ước đạt 218.672 tỷ đồng, tăng 11,22% so với cùng kỳ, đứng thứ 7/34 tỉnh, thành phố và thuộc nhóm 10 địa phương có tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước.

Sau 9 tháng tăng trưởng 9,01%, Việt Nam bước vào 'đường đua' 2 con số

Sau 9 tháng tăng trưởng 9,01%, Việt Nam bước vào 'đường đua' 2 con số

(CLO) GDP 9 tháng năm 2026 tăng 9,01%, trong đó riêng quý III tăng 9,95%, tạo nền tảng quan trọng cho chặng nước rút cuối năm. Khi quý IV bước vào mùa cao điểm sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu, mục tiêu tăng trưởng hai con số đang trở thành bài toán lớn, đòi hỏi nền kinh tế tiếp tục duy trì đà tăng và phát huy tối đa các động lực tăng trưởng.

Vĩnh Long tập trung nguồn lực cho cao điểm 90 ngày đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công

Vĩnh Long tập trung nguồn lực cho cao điểm 90 ngày đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công

(CLO) Xác định ba tháng cuối năm 2026 là thời gian mang tính bước ngoặt, UBND tỉnh Vĩnh Long vừa ban hành Kế hoạch số 374 hành động cao điểm “90 ngày đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công”. Toàn tỉnh đang huy động tối đa nguồn lực, quyết tâm tháo gỡ mọi "điểm nghẽn" để hướng tới mục tiêu giải ngân 100% kế hoạch vốn được giao.

TP.HCM muốn chấm dứt cảnh nghiên cứu xong rồi… để đó

TP.HCM muốn chấm dứt cảnh nghiên cứu xong rồi… để đó

(CLO) TP.HCM đang triển khai loạt cơ chế, chính sách mới nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về vốn, hạ tầng, nhân lực, sở hữu trí tuệ và thương mại hóa, hướng đến đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường.

Thương mại toàn cầu đang thế nào sau 6 năm giông bão?

Thương mại toàn cầu đang thế nào sau 6 năm giông bão?

(CLO) Đại dịch Covid-19, xung đột tại Ukraine và Trung Đông cùng làn sóng thuế quan của Mỹ đang làm thương mại toàn cầu biến động mạnh. Dù vậy, thương mại quốc tế vẫn cho thấy khả năng chống chịu đáng kể.

FDI thế hệ mới đến, KCN Việt Nam không thể chỉ bán đất

FDI thế hệ mới đến, KCN Việt Nam không thể chỉ bán đất

(CLO) Dòng vốn FDI thế hệ mới đang thay đổi cuộc chơi thu hút đầu tư tại Việt Nam khi nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến đất sạch, giá thuê hay ưu đãi, mà còn đòi hỏi hạ tầng đồng bộ, năng lượng sạch, logistics, công nghệ và nhân lực chất lượng cao.

Giảm 30% thuế TNCN, TNDN: Hộ kinh doanh và doanh nghiệp có thêm nguồn lực tái đầu tư

Giảm 30% thuế TNCN, TNDN: Hộ kinh doanh và doanh nghiệp có thêm nguồn lực tái đầu tư

(CLO) Chính sách giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) trong năm 2026 và 2027 được kỳ vọng giúp hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp có thêm nguồn lực để tái đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng góp trở lại cho nền kinh tế.

Lào Cai thành lập Cụm công nghiệp Yên Hợp 2 rộng 75ha

Lào Cai thành lập Cụm công nghiệp Yên Hợp 2 rộng 75ha

(CLO) UBND tỉnh Lào Cai vừa ban hành quyết định thành lập Cụm công nghiệp Yên Hợp 2 tại xã Xuân Ái với diện tích 75ha, tổng mức đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật 625,2 tỷ đồng. Cụm công nghiệp định hướng thu hút các ngành chế biến nông, lâm, thủy sản, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, điện tử, công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp chế biến công nghệ cao.

Cỡ chữ bài viết: