Trở lại Tàu Ô và Tà Thiết
(NB&CL) Nhóm nhà báo, nhà giáo tổ chức chuyến về nguồn, trở lại căn cứ Tàu Ô và Tà Thiết, nhân kỷ niệm 78 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ, 80 năm Cách mạng tháng Tám, Quốc khánh 2/9. Tà Thiết là vùng căn cứ Bộ Chỉ huy Miền, căn cứ Báo Quân Giải Phóng; Tàu Ô là vùng căn cứ sư đoàn 7 quân chủ lực Đông Nam bộ - địa chỉ đỏ của bao chiến công của một thời hào hùng, những ký ức của bao đồng đội, đồng nghiệp đã vào tuổi thất thập.
Từ đài chiến thắng mặt trận Tàu Ô
Nắng đẹp, những giọt nắng vàng màu mật ong trải dài trên tán lá rừng cao su xanh mướt đã đến mùa cạo mủ. Thi thoảng làn gió đung đưa, mưa nhẹ, chỉ là mưa đám mây do ảnh hưởng của dải hội tụ nhiệt đới. Chúng tôi gặp CCB, cộng tác viên báo chí Phạm Hải Hồng, nguyên cán bộ tuyên huấn sư đoàn 7; hai CCB Nguyễn Bá Hoài, Đại tá nguyên sư đoàn phó và CCB Lê Duy Lộc, thượng úy, cán bộ ban Thông tin sư đoàn ngụ tại phường Tân Khánh, TP. HCM. Cựu Sư phó Nguyễn Bá Hoài, giọng nói xứ Nghệ:
- Gặp bạn, Phạm Hải Hồng đưa 2 lít rượu gạo tự nấu đặt lên bàn. CCB và các nhà báo, nhà giáo cao niên bày cỗ “chén tạc chén thù”. Địa bàn Bình Dương, Bình Phước (cũ) có hơn 300 CCB sư đoàn 7, gần một trung đội nguyên là phóng viên, biên tập viên các báo Quân khu 7, Quân đội nhân dân, Đại Đoàn kết, Cao Su Việt Nam. Nếu kể cả các cựu PV Báo Bình Dương, Bình Phước thì con số ngót nghét 1 tiểu đoàn (cười). Mỗi năm dăm ba lần là “tất cả tập hợp” lai rai mệt nghỉ(!)
Phạm Hải Hồng “quán quân” thuộc nhiều thơ văn, bổ sung thêm tư liệu:
- Sư đoàn 7 thành lập ngày 13/6/1966, thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt, Mỹ ào ạt đổ quân vào miền Nam. Kỷ niệm 59 năm ngày thành lập sư đoàn, dù rất muốn, nhiều CCB đã không thể trở lại chiến trường xưa, điện thoại cho nhau suốt cả tuần. Nhà tôi đủ rộng đón một trung đội bạn hữu, hát hò thâu đêm, còn vui được là vui.
.jpg)
Phạm Văn Khóa, Phạm Hải Hồng dẫn các đồng đội, nhà báo, nhà giáo viếng đài Chiến thắng Tàu Ô - xóm Ruộng, bia ghi danh các anh hùng Liệt sỹ. Trong một lần, Phạm Văn Khóa cùng phân đội 5 người được giao nhiệm vụ chốt chặn ở xóm Ruộng Tàu Ô. Đạn bắn xối xả vào 3 trong số 5 người nằm cạnh Phạm Văn Khóa hy sinh, tay vẫn không rời cò súng. Phạm Văn Khóa và đồng đội còn lại bắn đến viên đạn cuối cùng, bi đạn địch xuyên đùi, thành thương binh. Là người trong cuộc, các anh thuộc lòng lịch sử những năm tháng vào sinh ra tử đánh giặc:
- Ngày 1/4/1972, Quân Giải phóng mở chiến dịch Nguyễn Huệ. Khu vực Tàu Ô, Tân Khai, Hớn Quản trở thành chiến lũy án ngữ đường 13 để quân ta phát triển xuống vùng trung tuyến, chặn địch tiến ra vùng giải phóng. Tàu Ô là khu vực “chốt cứng - chặn đứng” giữa ta và địch. Dưới mưa bom bão đạn, hơn 1.000 cán bộ chiến sỹ sư đoàn 7 anh dũng hy sinh. Kẻ địch dã man sát hại hơn 5.000 đồng bào.
Phạm Hải Hồng, người con của quê hương Tùng Ảnh, bến Tam Soa - Hà Tĩnh hướng dẫn chúng tôi đến thăm các địa danh nổi tiếng trên đường 13, tiếp lời:
- Chiến thắng mặt trận Tàu Ô là bản hùng ca đường 13. Các trung đoàn bộ binh tổ chức trận địa phòng ngự vững chắc. Đường 13 dài 130 km từ biên giới Campuchia xuyên qua Bình Long về Thủ Dầu Một hướng Sài Gòn. Các sư đoàn 5, 7, 9 và bộ đội địa phương tham gia chiến dịch Nguyễn Huệ góp phần đánh gục ý chí xâm lược của kẻ thù, buộc chúng ngồi vào bàn đàm phán chấm dứt chiến tranh. Gần 150 ngày đêm sư đoàn 7 tổ chức 800 trận đánh lớn nhỏ, tiêu diệt hơn 8.000 tên địch, bắt sống hơn 200 tên, phá hủy gần 120 máy bay, hơn 200 xe các loại, hơn 100 khẩu pháo, 20 hầm đạn, buộc địch tháo chạy khỏi Tàu Ô, quân ta thắng về mọi mặt.
Nhà báo Triêu Dương bổ sung:
Theo nhà báo Cao Kim, nguyên phóng viên Giải Phóng, tay súng tay bút tham gia nhiều trận đánh dọc đường 13, đường 22 phát biểu tại Bảo tàng Báo chí Việt Nam:
- Tôi biết rõ Lộc Ninh, Bình Long, Phước Long là địa chỉ đỏ, nơi đào mồ chôn bọn xâm lược. Mỗi tấc đất nơi đây đều thấm máu đào của các anh hùng liệt sỹ! Năm 1972, khi nói đến đường 13, nhắc đến địa danh Tàu Ô là kẻ thù run rẩy, khiếp sợ. Phóng viên báo Giải Phóng, báo Quân Giải Phóng đã luôn bám sát chiến địa, thông tin, phản ánh, bình luận kịp thời cuộc chiến đấu của chính nghĩa chống phi nghĩa!
Bộ chỉ huy miền và Báo Quân Giải phóng
Từ Đài Chiến thắng Tàu Ô, nghĩa trang liệt sỹ Bình Long, chúng tôi đến căn cứ Tà Thiết - Khu di tích Quốc gia đặc biệt, cơ quan đầu não, trái tim của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1973 - đến năm 1975. Từ hầm căn cứ của Bí thư Trung ương Cục Phạm Hùng, các tướng lĩnh Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Nguyễn Thị Định… Tà Thiết là điểm cuối của đường Hồ Chí Minh huyền thoại, nơi tiếp nhận súng đạn, quân trang quân dụng, lương thực, binh lực từ hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến. Tà Thiết nằm sát khu dân cư, sự kết hợp nhuần nhuyễn của sức mạnh lòng dân. Đầu tháng 4 năm 1975, Tà Thiết là nơi phát lệnh mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Báo Quân Giải Phóng, cơ quan của Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền đã hoạt động tại căn cứ Tà Thiết sau khi chuyển từ Tây Ninh về đây vào đầu năm 1973. Ngược dòng thời gian, Báo Quân Giải Phòng đã ra số đầu ngày 1/11/1963, số cuối cùng ra ngày 15/10/1975. Ngần ấy năm, trong bom đạn và bao gian khó, Báo Quân Giải Phóng cho ra đời 338 số. Trên cánh rừng Tà Tê - Tà Thiết khu căn cứ rừng già rộng 20 km2, tiếp giáp biên giới Campuchia. Báo Giải Phóng tòa soạn nằm cạnh tại Trung ương cục, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng - Tây Ninh, nhưng thường xuyên có phóng viên - phái viên đặc biệt nằm cạnh Bộ Chỉ huy Miền. PV Cao Kim là một trong những phóng viên của báo Giải Phóng có mặt tại Tà Thiết.
Chúng tôi vào sâu trong căn cứ, thăm các hầm chỉ huy, khảo sát hệ thống bếp Hoàng Cầm, huyền thoại để tránh sự phát hiện của máy bay và lực lượng thám báo địch; đến dưới các tán cây rừng cổ thụ, nghe huyền thoại về bóng cây Kơ Nia, loài cây khiến bao người thương nhớ. Lời ca bóng cây Kơ Nia của nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu như vang vọng núi rừng Tà Thiết: Trời sáng em lên rẫy/ Thấy bóng cây Ko nia/ Bóng ngã trên ngực em/ Về nhớ anh không ngủ…
***
Về với căn cứ xưa, các đồng đội, đồng nghiệp hôm nay càng trân trọng quá khứ, từ quá khứ để dõi vào tương lai. Đồng nghiệp Chử Văn Lịch gắn bó nhiều năm với Tạp chí Khoa học tâm lý giáo dục Việt Nam và chuyên san “Tuổi học trò” điện thoại cho nhà thơ Bằng Việt luận bài thơ ông viết năm 1967 tựa đề “Trở lại trái tim mình”, về ý nghĩa sâu xa đoạn kết nói về những người con nước Việt không bao giờ quên quá khứ, quá khứ tạo cho ta sức mạnh để “thêm sức đi xa”.
Bằng Việt viết: Trong mỗi ba lô quàng vai/ Đều cất giữ kho tàng chưa mở hết/ Như Hà Nội mười năm tôi đã biết/ Sớm hôm nay vẫn lạ nét ban đầu/ Sông Hồng ơi! Dông bão chẳng thay màu/ Rùa thần thoại vẫn nhô lưng đội tháp/ Chùa Một Cột đổ trên đầu giặc Pháp/ Lại nở xòe trọn vẹn đóa hoa sen… Dù Hà Nội mười năm, hai mươi năm kháng chiến/ Hà Nội vẫn rèn sắt thép lòng tin/ Dù quân thù bắn phá cuồng điên/ Tim ta đó vẫn nguyên lành Hà Nội/ Ôi trái tim nóng hổi/ Tôi về đây là thêm sức đi xa.
Chúng tôi tạm biệt Tà Thiết, Đài Chiến thắng Tàu Ô, nghĩa trang liệt sỹ Bình Long lúc chiều muộn. Trận mưa rừng đổ xuống chốc lát rồi tạnh ráo ngay. Mặt trời đỏ ối lặn dần phía rừng đại ngàn buông những giọt nắng nhẹ cuối cùng. Niềm tự hào lớn, 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9; hướng tới 60 năm ngày truyền thống sư đoàn 7, như thêm sự bừng tỉnh trong tim.
Chúng tôi về nguồn, như nhà thơ Bằng Việt nhắc mình, nhắc mọi người: Ôi trái tim nóng hổi. Tôi về đây là thêm sức đi xa…
TP. Hồ Chí Minh, tháng 8/2025