Tư duy lý luận – trụ cột làm nên thế nước hôm nay
Ngay từ khởi đầu mới thành lập, Đảng ta đã không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin - nền tảng tư tưởng của mình, giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đưa ra những quyết sách cách mạng đúng đắn, linh hoạt, bám sát tình hình thực tế của đất nước, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, tạo nên thế nước hôm nay.


80 năm sau ngày giành độc lập, sự nghiệp cách mạng Việt Nam từ đấu tranh giải phóng dân tộc đến xây dựng và phát triển đất nước luôn gắn liền với quá trình vận động, đổi mới tư duy lý luận của Đảng.
Nhân dịp Quốc khánh 2/9, phóng viên Báo Nhà báo và Công luận đã có cuộc trao đổi cùng GS.TS Tạ Ngọc Tấn - Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Nguyên Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương để làm rõ hơn "Tư duy lý luận - trụ cột làm nên thế nước hôm nay".

Thưa Giáo sư, nhìn lại 80 năm kể từ ngày giành độc lập, có thể thấy quá trình phát triển của Việt Nam luôn gắn với sự đổi mới tư duy lý luận của Đảng qua từng thời kỳ. Ông có thể phác thảo những chuyển động lớn trong tư duy lý luận phát triển của Đảng ta – từ độc lập dân tộc đến khát vọng hùng cường hôm nay?
Điểm mấu chốt, sống còn quan trọng nhất để quyết định những thành tựu trong đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, cũng như trong xây dựng và phát triển đất nước chính là vai trò lãnh đạo của Đảng. Vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện đầu tiên là năng lực của Đảng trong hoạch định đường lối, chủ trương của cách mạng. Muốn hoạch định đường lối, chủ trương của cách mạng một cách đúng đắn, vấn đề sống còn là phải vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước cũng như bối cảnh thế giới.
Cùng là một nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tại sao đảng này thành công, đảng kia thất bại. Chìa khóa ở đây chính là bản lĩnh và sự sáng tạo của mỗi đảng. Ngay từ khi mới thành lập, Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt của Đảng ta đều đã khẳng định chủ trương “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Trong điều kiện nền kinh tế nước ta còn lạc hậu, công nghiệp nước ta còn rất nhỏ bé, nghèo nàn, nhưng nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, có truyền thống anh hùng trong đánh giặc ngoại xâm trong quá trình dựng nước và giữ nước, vì thế Đảng ta chủ trương đoàn kết rộng rãi toàn dân tộc, xây dựng thành lực lượng cách mạng to lớn, vô địch để đứng lên chống ngoại xâm, giành lấy chính quyền về tay nhân dân, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Đây là đường lối, quan điểm, định hướng cốt tử của Đảng ta trong toàn bộ cách mạng, từ đấu tranh, giải phóng dân tộc đến công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Nhưng tùy theo từng thời kỳ cụ thể, với những điều kiện cụ thể, Đảng ta lại vận dụng một cách sáng tạo, đưa ra những chủ trương, quyết sách sáng tạo, năng động. Ví dụ, trong cao trào cách mạng 1930-1931, Đảng chủ trương đồng thời thực hiện việc đánh đổ đế quốc Pháp, chính quyền phong kiến, giành ruộng đất về tay dân cày, giành chính quyền về tay cách mạng. Nhưng khi đến giai đoạn 1939-1944, khi Nhật nhảy vào Đông Dương, nhất là khi Nhật hất cẳng Pháp, cướp chính quyền, Đảng đã ngay lập tức thay đổi chủ trương của mình, ưu tiên đánh đổ quân phiệt Nhật Bản để giành chính quyền. Vấn đề ruộng đất được thu hẹp lại ở mức độ chia ruộng công và ruộng do chính quyền Pháp nắm, còn vấn đề ruộng đất từ địa chủ, phong kiến thì tạm gác lại. Đây là một chủ trương sáng suốt, kịp thời nhằm đoàn kết toàn dân để thực hiện mục tiêu giành lấy chính quyền, giành lấy độc lập, tự do cho nhân dân..
Một biểu hiện khác của sự sáng tạo, linh hoạt của Đảng là việc tận dụng thời cơ khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh. Đó là một sự vận động cực kỳ linh hoạt, quyết đoán và nhanh chóng. Quân lệnh số I được ban hành ngay khi Trung ương bắt đầu nhóm họp ngày 13 tháng 8, trước khi Đại hội quốc dân ở Tân Trào diễn ra vào ngày 16 và 17/8/1945. Nhờ có sự nhanh chóng, linh hoạt và quyết đoán đó mà chỉ trong khoảng nửa tháng, Đảng ta đã lãnh đạo Nhân dân cả nước đứng lên, đánh đổ chính quyền quân phiệt Nhật, chế độ phong kiến hàng nghìn năm, giành chính quyền về tay nhân dân.
Một trong những thành công lớn của Đảng là kết hợp nhuần nhuyễn giữa thực tiễn và lý luận, giữa đặc điểm dân tộc và xu thế thời đại. Theo Giáo sư, yếu tố nào giúp Việt Nam xây dựng được một mô hình phát triển riêng biệt – kinh tế thị trường định hướng XHCN – mà vẫn giữ được sự ổn định chính trị và định hướng XHCN suốt những năm qua?
Điều này vốn là một nguyên lý trong tư duy lý luận và lãnh đạo của Đảng ta. Chúng ta hiểu rằng lý luận mang tính khái quát cao, thể hiện tính quy luật chung, trong khi thực tế khách quan kể cả tự nhiên và xã hội luôn vận động một cách sinh động, với những biểu hiện phong phú. Vì thế, việc vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn, gắn lý luận với thực tế sinh động, cụ thể của mỗi quốc gia, với bối cảnh lịch sử của mỗi giai đoạn nhất định của đất nước chính là thể hiện trí tuệ, bản lĩnh của Đảng, là một trong số yếu tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng.


Sau khi giành thắng lợi trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, non sông thu về một mới, đất nước ta bắt đầu xây dựng và phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa. Nhưng điểm xuất phát của chúng ta rất thấp về kinh tế, cụ thể hơn, lực lượng sản xuất của chúng ta rất nghèo nàn lạc hậu, hạ tầng bị phá hoại nặng nề sau chiến tranh, bắt buộc chúng ta phải có bước đi và những giải pháp thích hợp để phát huy mọi nguồn lực, nhất là những nguồn lực tiềm tàng trong xã hội, phát triển nhanh sản xuất, tạo ra của cải vật chất.
Từ những sáng kiến, sáng tạo của nhân dân, từ những kinh nghiệm hay của thế giới, Đảng ta đã sớm đổi mới tư duy, tổng kết thực tiễn để rút ra những bài học, đề ra đường lối đổi mới, trong đó chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta nhận thức rằng, kinh tế thị trường là một kết quả phát triển của nhân loại và là động lực phát triển nếu được vận dụng đúng đắn trong những bối cảnh cụ thể và được dẫn dắt bởi một lực lượng chính trị cách mạng chân chính là Đảng Cộng sản.
Đây là kết quả của sự đổi mới tư duy có tính cách mạng của Đảng ta, đưa nền kinh tế nước ta từ hai thành phần là nhà nước và tập thể thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, chấp nhận đa sở hữu, phát triển các loại thị trường, đặt dưới sự quản lý của Nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng.

Đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã mở ra các điều kiện thuận lợi cho kinh tế nước ta phát triển mạnh mẽ, làm ra ngày càng nhiều của cải vật chất, mang lại nguồn lực ngày càng lớn cho việc cải thiện đời sống nhân dân toàn diện, phát triển lực lượng sản xuất, phát triển cơ sở vật chất của xã hội, làm cho đất nước ta ngày càng to đẹp, đàng hoàng hơn.
Cũng với đường lối phát triển kinh tế, Đảng ta đồng thời không những hoàn thiện đường lối phát triển văn hóa, xã hội, con người, với mục đích tối thượng là vì hạnh phúc của Nhân dân. Logic tất yếu của đường lối ấy là sự ổn định chính trị, xã hội. Không những thế, tiềm lực đất nước lớn mạnh thêm, uy tín đất nước trên trương quốc tế được nâng lên tầm cao mới. Trở lại gốc rễ của kết quả ấy chính là đường lối của Đảng xuất phát từ lợi ích của Nhân dân, từ bối cảnh thực tế của đất nước, vừa hợp lòng dân vừa phù hợp với quy luật phát triển nói chung.

Có ý kiến cho rằng, “mỗi bước trưởng thành của đất nước đều gắn với một bước đổi mới tư duy, một quyết sách đúng lúc, đúng tầm”. Theo Giáo sư, tinh thần đó được thể hiện rõ nhất qua những nghị quyết, quyết định nào trong 80 năm qua – và bài học lớn nhất rút ra là gì?
Đúng vậy, đó chính là gốc rễ của vấn đề, là phương pháp luận rất cơ bản trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta. Muốn hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách, một điều căn cốt quan trọng nhất là phải dựa vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Đó là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời phải vận dụng, phát triển sáng tạo nền tảng ấy trong điều kiện và bối cảnh lịch sử cụ thể của đất nước, của thế giới.
Trong quá trình vận động, phát triển của thực tiễn, của xã hội, mỗi giai đoạn đều có những đặc điểm, điều kiện, yêu cầu và những vấn đề riêng. Quan trọng nhất là phải nhận định, đánh giá đúng điều kiện, bối cảnh, yêu cầu của cách mạng tại thời điểm ấy là gì, từ đó mà đặt ra những nội dung, nhiệm vụ, đối sách cụ thể để đạt được mục tiêu đề ra.
Lấy ví dụ, trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, Đảng ta đã rất nhanh chóng nhận định thời cơ cách mạng ngàn năm có một xuất hiện, kịp thời phát động tổng khởi nghĩa trong cả nước, đánh đổ phát xít Nhật và chế độ phong kiến, giành chính quyền về tay cách mạng. Nhờ chủ trương đúng đắn đó, chỉ trong vòng nửa tháng, Cách mạng đã thành công trong cả nước.
Sau này, khi đất nước gặp khó khăn trong phát triển kinh tế-xã hội, tưởng chừng như đến chân tường, thì từ sáng kiến của nhân dân, từ thực tiễn, Đảng đã tổng kết và đưa ra khoán 100 (Chỉ thị 100-CT/TƯ năm 1981 của Ban Bí thư), rồi đến khoán 10 (Nghị quyết năm 1988 của Bộ Chính trị). Đó là một sự đổi mới năng động, linh hoạt, rất sáng tạo của Đảng ta trong việc tổng kết thực tiễn từ kinh nghiệm thực tế, bài học của nước ngoài và của chính người nông dân Việt Nam. Chúng ta phát hiện ra vấn đề cần phải làm, đó là đổi mới trong cải tiến quản lý nông nghiệp, giao quyền cho người dân tự chủ quản lý sản xuất trên đồng ruộng để dẫn tới cuộc cách mạng thần kỳ trong nông nghiệp, đưa nước ta từ một nước phải nhập lương thực hằng năm trở thành một trong những nước xuất khẩu lương thực và nông sản hàng đầu thế giới.

Nhân vấn đề Giáo sư đưa ra, Giáo sư có thể nói qua đôi nét về chính sách Đổi mới năm 1986, Cương lĩnh 1991, chiến lược 2011-2020, Nghị quyết Trung ương 5 khóa X, và gần nhất là Đại hội khóa XIII?
Đó là logic theo tiến trình đường lối. Nhưng tôi muốn nói thế này, quan trọng nhất của đổi mới là từ tình hình thực tiễn trong nước và thực tiễn của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên thế giới, Đảng ta đã có những quyết sách rất kịp thời để vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện, bối cảnh cụ thể ấy, để đưa ra những quyết sách mang tính cách mạng thuộc về đổi mới.
Về kinh tế, từ nền kinh tế kế hoạch hóa, bao cấp, chúng ta chuyển sang nền nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Gắn với đó, từ nền kinh tế chỉ có sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, chúng ta chuyển thành nền kinh tế đa thành phần, không chỉ chấp nhận đa sở hữu mà còn dần dần xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Đó là một bước chuyển có tính cách mạng chưa từng thấy.
Về nhà nước, từ nhà nước chuyên chính vô sản, tức là sử dụng quyền lực của giai cấp vô sản để thực hiện hai nhiệm vụ - trấn áp kẻ thù giai cấp và xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta chuyển sang hệ thống chính trị, trong đó có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đó cũng là đánh dấu một bước phát triển mang tính cách mạng trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn của Đảng. Tất cả những điều kiện ấy là cơ sở, nền tảng để chúng ta liên tục có những thắng lợi to lớn như ngày hôm nay.

Gần đây chúng ta đang nói nhiều về “thế nước”, về “vận hội vươn mình” sau 80 năm độc lập. Vậy theo Giáo sư, những yếu tố cốt lõi nào tạo nên “thế nước” hôm nay, xét từ góc độ lý luận chính trị và chiến lược phát triển quốc gia?
Nói đến thế nước, tôi nghĩ đó là nói đến mấy yếu tố. Thứ nhất, đó là lòng dân, là niềm tin Nhân dân đối với Đảng, với chế độ, là sự ổ định chính trị, xã hội với khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thứ hai, đó là sức mạnh, tiềm lực quốc gia, bao gồm sức mạnh vật chất, sức mạnh văn hóa, sức mạnh tinh thần, sức mạnh quốc phòng, an ninh. Thứ ba, đó là vị thế, vai trò, quan hệ quốc tế của đất nước trên trường quốc tế và khu vực. Và thứ tư, đó là sự vững mạnh của hệ thống chính trị với vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và vai trò làm chủ của Nhân dân.
Nói cách khác, chúng ta có Đảng mạnh, có nhân dân đoàn kết và tin tưởng, có những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội để mang lại tiềm lực kinh tế, cải thiện toàn diện đời sống nhân dân, có uy tín thế giới lớn, nâng tầm đất nước trên trường quốc tế. Những yếu tố ấy tạo thành một thế nước bền vững, mở ra cơ hội lớn cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, sánh vai với các cường quốc 5 châu..
Giáo sư có thể nói thêm về vận hội của chúng ta từ thế nước đó không?
Thế nước mạnh giúp chúng ta có điều kiện mở rộng, phát triển kinh tế, hội nhập với nền kinh tế thế giới, hội nhập với chính trị thế giới, kể cả hội nhập với vấn đề quốc phòng, an ninh với thế giới. Đương nhiên hội nhập càng sâu rộng với thế giới ta càng phải khẳng định chủ quyền, tự chủ, càng phải kiên định lập trường chính trị, càng phải ý thức đầy đủ hơn về lợi ích quốc gia dân tộc.

Khi hội nhập với thế giới, chúng ta có điều kiện tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất, vào chuỗi giá trị của thế giới, gắn kết nền kinh tế của nước ta với nền kinh tế các quốc gia khác, tạo nên sức mạnh, và nhiều lợi thế hơn cho sự phát triển.
Khi nền kinh tế, nền sản xuất của cải vật chất của chúng ta phát triển mạnh mẽ, tiềm lực quốc phòng, an ninh của chúng ta sẽ lớn mạnh hơn. Đó cũng là cơ sở, điều kiện để bảo vệ bền vững hơn sự ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ bền vững hơn quốc phòng, an ninh của đất nước.

Gần đây, Tổng bí thư Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh tinh thần đột phá thể chế, pháp luật để đất nước vươn mình. Dưới góc độ lý luận, Giáo sư đánh giá thế nào về vai trò của đổi mới thể chế, cả về tổ chức bộ máy, pháp luật, lề lối quản trị trong việc tạo thế và lực cho Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới?
Tại sao phải đổi mới thể chế? Nó có nguyên nhân của nó. Thứ nhất, thể chế của chúng ta chưa hoàn thiện, và điều đó tạo ra những điểm nghẽn, làm chậm sự phát triển. Thứ hai, trên thực tế, chúng ta vẫn có một điểm yếu căn bản là tổ chức thực hiện kém, hiệu quả còn thấp. Mà tổ chức thực hiện hạn chế chính là xuất phát từ thể chế. Cho nên, thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn. Vì vậy, chúng ta phải hoàn thiện nó.

Nói đến hoàn thiện thể chế là nói đến việc hoàn thiện hệ thống các cơ quan, chủ thể tham gia, hoàn thiện hành lang pháp lý, hệ thống pháp luật, và hoàn thiện sân chơi, cơ chế vận hành của cả bộ máy. Vì thế, đổi mới về mặt thể chế là vấn đề sống còn. Đó là giải quyết điểm nghẽn của điểm nghẽn để thúc đẩy sự phát triển.
Việc Bộ Chính trị ban hành một số quyết sách quan trọng như trong cá nghị quyết như: Nghị quyết số 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết 59 Hội nhập quốc tế trong tình hình mới, Nghị quyết số 66 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, Nghị quyết số 68 về phát triển kinh tế tư nhân và nhất là cuộc cách mạng trong sắp xếp bộ máy tổ chức hệ thống chính trị tinh gọn mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, chính là những đột phá góp phần hoàn thiện thể chế phát triển. Đương nhiên, một thể chế phát triển hoàn thiện, hợp lý, khoa học, phù hợp với điều kiện, yêu cầu của đất nước sẽ là động lực mạnh mẽ để phát triển đất nước nhanh, toàn diện, bền vững, hướng tới thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và hạnh phúc.
Nhìn về tương lai, Việt Nam đang đặt mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Theo Giáo sư, tư duy lý luận của Đảng cần tiếp tục đổi mới thế nào để vừa giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa mở rộng các dư địa phát triển trong một thế giới đầy biến động?
Để đạt được mục tiêu mà Đại hội XIII đã đề ra, theo tôi, đường lối, chủ trương của Đảng đã rất rõ. Chúng ta phải thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất trên cơ sở động lực quan trọng là đổi mới, sáng tạo. Đồng thời phải phát huy sức mạnh đoàn kết của nhân dân, phát huy những tiềm lực, những động lực còn đang tiềm tàng trong nhân dân.
-f3df42d5734ff9596367d97854099f53.png)
Nếu gửi một thông điệp đến người dân, đặc biệt là giới trẻ, nhân dịp 80 năm đất nước giành độc lập, Giáo sư muốn nhắn nhủ điều gì?
Tôi muốn nói rằng, chúng ta đã có một lịch sử vẻ vang. Lịch sử vẻ vang ấy có được là nhờ sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta. Những thành tựu vẻ vang ấy không thể có nếu không có sức mạnh của nhân dân, sự đoàn kết nhất trí của toàn dân tộc. Những thành tựu đó không thể có nếu chúng ta thiếu sự hợp tác, giúp đỡ, phối hợp của bạn bè tiến bộ trên thế giới.
Nhưng quá trình phát triển ấy cũng để lại cho chúng ta rất nhiều bài học lớn. Một bài học rất quan trọng là phải tự lực, tự cường, phải lấy sức ta mà giải phóng ta, lấy sức của ta mà làm giàu cho ta. Đó là điều sống còn. Chủ nghĩa xã hội, như Bác Hồ đã nói, không phải từ trên trời rơi xuống, mà phải do công sức của chúng ta. Đảng đề ra đường lối, nhân dân là lực lượng phải tổ chức thực hiện.
Và khi chúng ta đang bước vào một kỷ nguyên mới, đầy hy vọng nhưng cũng đầy khó khăn, phức tạp, rất nhiều thời cơ thuận lợi nhưng cũng đầy thách thức, thì để đi đến thành tựu, như trong quá khứ đã dạy chúng ta, phải tự lực cánh sinh và phải đồng tâm, quyết chí, trên dưới một lòng, toàn dân là một, thì chắc chắn chúng ta sẽ vượt qua những khó khăn, thách thức ấy để đi tới những thắng lợi cuối cùng theo mục tiêu đã đề ra!
Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!
Hữu Kế (thực hiện)
Thiết kế: Hà Đương - Ảnh: Đình Trung; Tư liệu
.jpg)