Việt Nam đã đúng khi từ bỏ “zero COVID”

Tại sự kiện Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2021 hôm nay (5/12), ông Patrick Lenain, Phó Vụ trưởng, Vụ Kinh tế, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế đánh giá: Nhìn chung, Việt Nam đã kiểm soát cuộc khủng hoảng COVID tốt hơn nhiều nước khác.

Vào năm 2020, khi đại dịch bùng phát, chính phủ Việt Nam đã phản ứng rất nhanh, bằng việc áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp y tế, kết hợp xét nghiệm, truy vết và cách ly. Nhờ những nỗ lực này, Việt Nam hầu như đã khống chế được dịch bệnh trong năm 2020, với số ca mắc và tử vong thấp. Và Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng GDP dương là 2,9 % vào năm 2020, một trong những mức cao nhất trên thế giới.

viet nam da dung khi tu bo zero covid hinh 1

Ông Patrick Lenain, Phó Vụ trưởng, Vụ Kinh tế, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế.

Tuy nhiên, việc duy trì chiến lược “zero COVID” không thể kéo dài mãi. Điều này đòi hỏi phải đóng cửa hoàn toàn biên giới, và đưa ra các hạn chế thường xuyên, gây gián đoạn phát triển kinh tế, với những tác động tiêu cực lâu dài. Australia, New Zealand, Singapore cuối cùng đã từ bỏ chính sách “zero COVID” và Việt Nam đã đúng khi làm điều tương tự.

Vì vậy, ông Patrick Lenain kiến nghị Việt Nam ưu tiên cho 3 phải pháp, liên quan tới việc phòng chống dịch bệnh và phục hồi kinh tế.

Thứ nhất, điều cần thiết là phải đạt được tỷ lệ tiêm chủng rất cao, càng sớm càng tốt, bao gồm cả việc triển khai tiêm mũi nhắc lại vacxin phòng covid-19. Mua vắc xin thôi chưa đủ, việc phối hợp tốt để phân phối, tổ chức các chiến dịch tiêm chủng, thuyết phục những người còn lưỡng lự đi tiêm chủng, cũng là điều cần thiết. 

Tại Hàn Quốc, ngoài các cơ sở công lập, các phòng khám y tế tư nhân cũng cung cấp dịch vụ tiêm chủng tại các cơ sở của họ. Ở nhiều quốc gia, những người chưa tiêm chủng phải chịu các hạn chế - ví dụ như ở Áo và Đức, họ phải có kết quả xét nghiệm âm tính mới được đi máy bay, đi tàu hoặc đến nhà hàng, trong khi những người tiêm chủng đầy đủ được miễn các hạn chế này.

Thứ hai, các giải pháp hỗ trợ kinh tế vĩ mô cần phải mạnh mẽ và nhanh chóng. So với các nền kinh tế phát triển, việc triển khai các gói hỗ trợ chính sách còn ít và bị trì hoãn ở nhiều nền kinh tế mới nổi. Điều này dẫn đến sự phục hồi kinh tế thất bại, có nguy cơ làm suy yếu tăng trưởng dài hạn. 

Nếu không nhận được đủ sự hỗ trợ, nhiều công ty sẽ phá sản, các kế hoạch đầu tư không được triển khai, công nhân mất việc làm, trẻ em không được đến trường. Trong khi đó, các nền kinh tế thị trường mới nổi triển khai các gói hỗ trợ lớn đã vận hành rất tốt. 

“Kể từ khi đại dịch bùng phát, Malaysia đã hai lần nâng trần nợ công, từ 55% GDP lên 65% GDP. Malaysia đã tung ra các gói cứu trợ khổng lồ, có quy mô lên tới hơn 35% GDP, giúp nền kinh tế tiếp tục phát triển”, ông Patrick Lenain nói.

viet nam da dung khi tu bo zero covid hinh 2

Toàn cảnh Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2021.

Thứ ba, chi tiêu công nhiều hơn sẽ đồng nghĩa với việc nợ nhiều hơn, vì vậy việc lựa chọn các chương trình chi tiêu tốt là điều cần thiết. Hầu hết các chính phủ đều đang tìm cách xây dựng lại tốt đẹp hơn sau đại dịch - nói cách khác, họ muốn đầu tư cho tương lai.

Ví dụ, điều này có nghĩa là tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật số và kỹ năng số, để tất cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tiếp cận với các công nghệ như thương mại điện tử, điện toán đám mây và trí tuệ nhân tạo.

Đầu tư công cũng phải tính tới vấn đề biến đổi khí hậu bằng cách cắt giảm lượng khí thải carbon, ví dụ như tạo ra nhiều điện năng hơn từ các tuabin gió, các tấm pin mặt trời, khí sinh học và sinh khối, thay vì điện than. 

Đầu tư vào giáo dục và phát triển kỹ năng cũng là điều cần thiết: sau đại dịch, chúng ta sẽ không trở lại với những công việc như cũ: Việt Nam sẽ cần ngày càng nhiều nhân viên chăm sóc sức khỏe được trả lương tốt hơn, nhiều chuyên gia kỹ thuật số hơn và nhiều chuyên gia quản lý chuỗi cung ứng hơn. 

Việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng sẽ khó khăn hơn, do các nền kinh tế phát triển đang cố gắng mang dây chuyền sản xuất và việc làm trở lại đất nước của họ, vì vậy, Việt Nam sẽ cần phải tăng cường khả năng cạnh tranh và sự hấp dẫn hơn nữa đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

“Nói tóm lại, Việt Nam có tiềm năng kinh tế rất lớn. Trước đại dịch, thành tựu kinh tế của Việt Nam rất nổi bật, với mức tăng trưởng GDP trung bình gần 7% mỗi năm. Đây là con số rất là cao. Với những cải cách chính sách đúng đắn, chúng tôi tin tưởng rằng Việt Nam sẽ đạt được sự thịnh vượng về kinh tế trong tương lai gần”, ông Patrick Lenain chia sẻ thêm.

Xem thêm

Kinh tế Iran ra sao dưới sức ép chiến tranh và trừng phạt?

Kinh tế Iran ra sao dưới sức ép chiến tranh và trừng phạt?

(CLO) Bất chấp nhiều năm chịu các lệnh trừng phạt quốc tế, căng thẳng quân sự và áp lực từ Mỹ, nền kinh tế Iran vẫn chưa rơi vào tình trạng sụp đổ. Tuy nhiên, đằng sau khả năng chống chịu đó là một thực tế khác: người dân Iran đang phải gánh chi phí ngày càng lớn khi lạm phát tăng cao, thu nhập suy giảm và chất lượng sống đi xuống.

Sau cú sốc 2022, trái phiếu doanh nghiệp vẫn chật vật lấy lại đà tăng trưởng

Sau cú sốc 2022, trái phiếu doanh nghiệp vẫn chật vật lấy lại đà tăng trưởng

(NB&CL) Sau giai đoạn trầm lắng trong các năm 2022 - 2023, thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã dần lấy lại đà phục hồi từ năm 2024. Tuy nhiên, quá trình phục hồi vẫn diễn ra thận trọng, thanh khoản chưa thực sự cải thiện, hoạt động phát hành chưa sôi động như trước và niềm tin của nhà đầu tư chưa được khôi phục đầy đủ.

Hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực ngày càng lớn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Ảnh: DNSE

Muốn tăng trưởng hai con số, Việt Nam không thể mãi dựa vào vốn ngân hàng

(CLO) Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong những năm tới, kéo theo nhu cầu vốn đầu tư lên tới hàng chục triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, khi tín dụng đã tương đương khoảng 146% GDP và nhu cầu vốn trung, dài hạn ngày càng lớn, các chuyên gia cảnh báo việc phụ thuộc quá nhiều vào hệ thống ngân hàng sẽ khiến nền kinh tế đối mặt với nhiều rủi ro.

Ngưỡng 20.000 tỷ đồng quá cao, VCCI đề nghị mở rộng cơ chế cho dự án BT

Ngưỡng 20.000 tỷ đồng quá cao, VCCI đề nghị mở rộng cơ chế cho dự án BT

(CLO) Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa có văn bản góp ý đối với dự thảo Nghị định sửa đổi các Nghị định hướng dẫn Luật PPP, trong đó đề xuất điều chỉnh một số quy định tại Nghị định 257/2025/NĐ-CP nhằm tăng tính khả thi trong triển khai các dự án hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT).

Lào Cai phê duyệt dự án hầm Hàm Rồng 2.500 tỉ đồng

Lào Cai phê duyệt dự án hầm Hàm Rồng 2.500 tỉ đồng

(CLO) UBND tỉnh Lào Cai vừa phê duyệt chủ trương đầu tư dự án hầm đường bộ Hàm Rồng với tổng mức đầu tư 2.500 tỉ đồng. Công trình được kỳ vọng tạo thêm trục kết nối giữa Quốc lộ 4D và tỉnh lộ 152, góp phần giảm áp lực giao thông, mở rộng không gian phát triển đô thị và du lịch tại Sa Pa.

Kiểm tra thuế điện tử: Người nộp thuế được giảm phiền hà, hạn chế sách nhiễu

Kiểm tra thuế điện tử: Người nộp thuế được giảm phiền hà, hạn chế sách nhiễu

(CLO) Việc kiểm tra thuế bằng phương thức điện tử giúp người nộp thuế có thể cung cấp hồ sơ, giải trình và làm việc với cơ quan thuế hoàn toàn trên môi trường số, không cần tiếp xúc trực tiếp trong phần lớn các trường hợp. Quy trình này không chỉ giúp tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch, hạn chế phát sinh phiền hà, sách nhiễu trong quá trình kiểm tra thuế.

Muốn tăng trưởng bứt phá, Việt Nam cần một thị trường chứng khoán đủ sâu và đủ mạnh

Muốn tăng trưởng bứt phá, Việt Nam cần một thị trường chứng khoán đủ sâu và đủ mạnh

(CLO) Theo lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, một nền kinh tế không thể phát triển bền vững nếu thiếu một thị trường chứng khoán đủ lớn, đủ sâu và đủ mạnh, đồng thời việc nâng hạng thị trường không phải là đích đến mà là động lực để thúc đẩy cải cách toàn diện thị trường vốn.

Cỡ chữ bài viết: