Từ tấm lòng, sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Sinh thời, trong cuộc đời cách mạng của mình, dù bộn bề công việc nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành những tình cảm đặc biệt dành cho phụ nữ Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên chỉ ra những căn nguyên kinh tế, xã hội đã khiến phụ nữ Việt Nam chịu sự áp bức, bóc lột dưới chế độ thuộc địa, nửa phong kiến trước đây. Người cảm thông sâu sắc với nỗi thống khổ của phụ nữ Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp và chỉ rõ: “ách áp bức dân tộc và bóc lột giai cấp của bọn thực dân Pháp và phong kiến tay sai là nguyên nhân cơ bản gây nên những nỗi đau khổ, cơ cực của người phụ nữ”.
Trong những tháng năm kháng chiến gian khổ, Người khẳng định: “Trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc ta, phụ nữ ta đang gánh một phần quan trọng. Nhiều cụ bà ngoài bảy tám mươi tuổi, chẳng những đã xung phong đi dân công, mà còn thách thi đua với các cụ ông và con cháu. Các bà mẹ chiến sĩ và các chị em giúp thương binh đã hòa lẫn lòng yêu nước, yêu con, yêu chiến sĩ thành một mối yêu thương không bờ bến, mà giúp đỡ chiến sĩ và săn sóc thương binh như con em ruột thịt của mình…”
Người luôn nhắc nhở phụ nữ phải tự mình vươn lên: “Chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh”. Tại Đại hội Phụ nữ Việt Nam lần thứ III, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn: Phụ nữ ta phải xóa bỏ cái tâm lý tự ti và ỷ lại, phải có ý chí tự cường, tự lập, phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hóa, kinh tế.
Trước khi đi xa, trong Di chúc, Người căn dặn: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”.
Tới hoạt động sôi nổi của nhiều tổ chức phụ nữ tiền thân
Tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản từ ngày 6/1/1930 - 8/2/1930, bên cạnh Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình điều lệ tóm tắt của Đảng, Hội nghị còn quyết định thành lập các tổ chức quần chúng do Đảng lãnh đạo, trong đó có Hội phụ nữ Giải phóng. Trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã ghi: “Nam nữ bình quyền”. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận rõ, phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm vụ: Đảng phải giải phóng phụ nữ; Phụ nữ phải tham gia các đoàn thể cách mạng (công hội, nông hội) và thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng.
Sau khi thành lập Đảng, từ ngày 14 - 31/10/1930, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất, bên cạnh việc thảo luận Luận Cương chính trị của Đảng, Hội nghị đã thông qua Nghị quyết về Phụ nữ vận động, trong đó đề ra nhiệm vụ phải tổ chức ra các đoàn thể phụ nữ như “phụ nữ hiệp hội”. Đồng thời Trung ương Đảng đã đề ra Điều lệ Phụ nữ Liên hiệp Hội. Chính từ chủ trương ấy, ngay từ những năm 1930 một số tổ chức phụ nữ đã hình thành như Phụ nữ Liên Hiệp Hội (1930), Phụ nữ Giải phóng (1930-1931), Phụ nữ Dân chủ (1936-1939)…hoạt động tích cực. Điển hình như tổ chức “Phụ nữ Giải phóng” (1930 – 1931) đã thu hút đông đảo phụ nữ tham gia vào cao trào đấu tranh cách mạng (điển hình là Xô viết Nghệ Tĩnh). Ở thời kỳ vận động dân chủ 1936- 1939, quần chúng phụ nữ được tập hợp trong những tổ chức phù hợp với ngành nghề và điều kiện sinh hoạt, trong đó “Hội Phụ nữ dân chủ” và “Hội Phụ nữ giải phóng” làm nòng cốt vận động, tập hợp các tầng lớp phụ nữ đấu tranh đòi các quyền tự do, dân chủ và hòa bình.
Trong thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền (1939 - 1945), Đảng chủ trương: “Vận động phụ nữ tổ chức các hội phụ nữ phản chiến, các hội cứu tế, bảo an… để giúp đỡ nhau, chống đế quốc chiến tranh, đòi hòa bình”, theo đó “Hội Phụ nữ phản đế”, “Đoàn Phụ nữ cứu quốc” ra đời, động viên phụ nữ gia nhập Mặt trận Việt Minh, tham gia các đội vũ trang tuyên truyền. Nổi bật trong thời kỳ này là “Hội phụ nữ Phản đế”. Hội đã vận động chị em tham gia mít tinh, biểu tình, lập các hội cứu tế, bảo an, tham gia chống bắt lính với khẩu hiệu chống đế quốc chiến tranh, đòi hòa bình, đòi bồi thường chiến tranh. Phụ nữ thoát ly gia đình, tham gia hoạt động cách mạng ngày càng đông đảo, góp phần xây dựng lực lượng chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Một điểm nhấn trong thời kỳ này là việc ngày 16/6/1941, Đoàn Phụ nữ Cứu quốc, thành viên của Mặt trận Việt Minh, được thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đoàn Phụ nữ cứu quốc đã vận động các tầng lớp phụ nữ gia nhập Mặt trận Việt Minh, gia nhập các đoàn thể cứu quốc đánh Pháp, đuổi Nhật, xây dựng và bảo vệ cơ sở cách mạng. Để gấp rút chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền, phụ nữ đã tích cực tham gia các phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật, phá kho thóc giải quyết nạn đói... Hội phụ nữ vận động các hội viên bí mật xây dựng và bảo vệ cơ sở cách mạng.
Và sự ra đời của Hội LHPN Việt Nam
Cách mạng Tháng Tám thành công, chủ trương lớn của Đảng là mở rộng mặt trận thống nhất dân tộc, thành lập các tổ chức đoàn thể nhằm tập hợp, động viên, khích lệ đông đảo lực lượng quần chúng yêu nước không phân biệt dân tộc, giai cấp, đảng phái. Năm 1946, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị đại biểu phụ nữ các khu, tỉnh miền Bắc. Hội nghị đã bầu ra Ban Liên lạc Phụ nữ Xứ Bắc Bộ.
Tuy nhiên, bước ngoặt tác động lớn tới sự ra đời của Hội LHPN Việt Nam là việc tháng 4/1946, đồng chí Phạm Văn Đồng trong phái đoàn thiện chí của Quốc hội nước ta sang thăm Pháp đã trực tiếp gặp bà Eugenie Cotton, Hội trưởng Hội LHPN Pháp, Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ quốc tế tìm hiểu về tổ chức, mục tiêu và hoạt động của Hội LHPN Pháp và Liên đoàn. Khi về nước, đồng chí Phạm Văn Đồng đã báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh về mô hình hội LHPN nước bạn. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã chỉ thị việc thành lập tổ chức Hội LHPN Việt Nam để tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ trong cả nước.
Nhận chỉ thị của Bác, đồng chí Phạm Văn Đồng đã gặp bà Lê Thu Trà (lúc đó là Bí thư Phụ nữ Cứu quốc Thành Hoàng Diệu – Hà Nội, kiêm trưởng Ban Liên lạc Phụ nữ Xứ Bắc Bộ) truyền đạt ý kiến của Người và đề nghị xúc tiến việc thành lập tổ chức Hội LHPN Việt Nam.
Ngày 3/10/1946, Bộ trưởng Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng đã ký Nghị định cho phép thành lập Hội LHPN Việt Nam. Ngày 17/10/1946, Báo Cứu quốc đăng toàn văn nội dung Lời Hiệu triệu của Hội LHPN Việt Nam. Ngày 20/10/1946, Hội LHPN Việt Nam chính thức được thành lập trên cơ sở các tổ chức phụ nữ tiền thân.
Theo quy định của Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương, Việt Nam bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau, miền Bắc xây dựng CNXH, miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ Ngụy. Trước tình hình đó, tháng 3/1961, Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập với vai trò tập hợp phụ nữ miền Nam Việt Nam đoàn kết trên mặt trận giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Tổ chức Hội hai miền Nam Bắc thực hiện những nhiệm vụ, hoạt động phù hợp với từng miền, đồng thời cùng hướng tới mục điêu chung là đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ, đánh đuổi đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước.
Sau ngày đất nước hoà bình, thống nhất, thực hiện Nghị quyết của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc thống nhất các đoàn thể nhân dân, từ ngày 10-12/6/1976, Hội nghị Thống nhất Hội LHPN toàn quốc được tổ chức. Hội nghị đã nhất trí quyết nghị: Thống nhất sự chỉ đạo hoạt động của Hội LHPN trong cả nước trong một tổ chức là Hội LHPN Việt Nam. Hội nghị cũng quyết định lấy ngày 20/10/1930 là ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam. Đến năm 2010, tại thông báo số 382-TB/TW ngày 15/10/2010 của BCH TƯ Đảng, Ban Bí thư đồng ý lấy ngày 20/10 hàng năm là ngày Phụ nữ Việt Nam.