Những hình ảnh sinh động về nghề báo

Sáng đầu năm Kỷ Hợi, tôi vui đến ngỡ ngàng khi nhận được “quà xuân” của bạn đồng nghiệp lâu năm từ TP. Vũng Tàu gửi tặng. Đó là cuốn tiểu thuyết “Từ bến sông Nhùng” của chính anh- tác giả Phạm Quốc Toàn, do NXB Văn hóa-Văn nghệ xuất bản 1-2019, với 393 trang khổ 14,5x20,5cm.

Tôi lướt nhanh có 9 chương với các tên gọi mang tính thời sự cuốn hút: Chín mươi và bảy mươi; Gió Lào cát trắng; Nghề báo-nghiệp văn; Nhà báo, bạn là ai; Từ báo in đến báo nói; Người về, tầm nhìn ở lại; Đạo đức nghề nghiệp; Dấu ấn những sân chơi; Mái ấm. Như vậy, 7 trong số 9 chương, với những ai là nhà báo không thể không quan tâm một cuốn sách đề cập một nghề cao quý đi liền gian nan, vinh dự đi liền trách nhiệm công dân và trách nhiệm xã hội… Với suy nghĩ ấy, tôi đã gạt công việc đang làm, đọc liền mấy ngày, gạch dưới từng đoạn; và nhiều lúc suy ngẫm từng chi tiết, từng sự kiện, từng nhân vật… được tác giả đề cập trong tiểu thuyết.

Song, không chỉ suy ngẫm về những vấn đề chủ yếu nêu trên, mà càng đọc, tôi càng liên tưởng và tự hỏi: Phải chăng, đây là cuốn tiểu thuyết văn học thuần túy, vì trong thực tế, các nhà nghiên cứu còn chia nhỏ ra khoảng trên dưới 20 loại “Tiểu thuyết con”: Tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết hình sự, tiểu thuyết tâm lý xã hội, tiểu thuyết triết học, tiểu thuyết tâm linh...; và những năm gần đây nổi lên loại “tiểu thuyết ngôn tình” du nhập từ Trung Quốc. Soi vào nội dung cuốn sách của Phạm Quốc Toàn, tôi mạnh dạn gọi nó là tiểu thuyết chân dung-lịch sử?

78cdc77fdf183d4664092222

Nêu điều này, vì qua gần 400 trang sách, nhân vật trung tâm là nhà báo, nhà văn Phan Hoàng, đã qua 90 tuổi đời và 70 tuổi nghề, sinh thành từ bến sông Nhùng ở miền “gió Lào cát trắng”, rời ghế nhà trường đi theo cách mạng, gắn bó cả thời trai trẻ với tờ báo Cứu Quốc Liên khu 4 trong những năm chống thực dân Pháp; tới tháng 10-1954 theo đoàn quân vào giải phóng Thủ đô, được tổ chức phân công nhận nhiệm vụ tại Báo Nhân Dân, một tờ báo Đảng lớn nhất của đất nước; từ đó mang bút danh Phan Hoàngdưới sự chỉ đạo, dẫn dắt của Tổng biên tập Hoàng Bách. Lịch sử của tờ báo Đảng cũng như nền báo chí cách mạng Việt Nam nói chung gắn liền với lịch sử thăng trầm của đất nước qua 70 mùa xuân mà Phan Hoàng một lòng theo Đảng, đam mê và sáng tạo với nghề báo, nghiệp văn; đau đáu từng đề tài thời cuộc, trăn trở từng con chữ, ý văn; nhẹ lòng và thanh thoát khi đồng nghiệp sẻ chia, khích lệ trước mỗi bài viết thành công; suy tư và nghiêm khắc với bản thân trước mỗi sai lầm, vấp váp trên từng cương vị đảm nhiệm, từ phóng viên thực thụ của tờ báo Cứu Quốc Liên khu 4 và Báo Nhân Dân, đến cương vị cán bộ quản lý-Vụ trưởng, Trưởng ban Nông nghiệp, Ủy viên Ban Biên tập báo Đảng, rồi Vụ trưởng Vụ Báo chí-Ban Tuyên huấn Trung ương; tiếp đó là Thứ trưởng Bộ Thông tin, rồi Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội (ba khóa liên tục), và về hưu ở tuổi 75 sau gần 10 năm làm Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, hai nhiệm kỳ (10 năm) làm Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam. Ngần ấy mốc thời gian trong 70 năm đời báo, đời văn, bao nhiêu vui buồn đan xen, bao ngọt ngào, đắng đót… của nhà báo Phan Hoàng được miêu tả sinh động qua các trang viết của Phạm Quốc Toàn. Thật thú vị và thuyết phục bạn đọc, nhất là các nhà báo khi soi chiếu vào nhân vật Phan Hoàng, dễ nhận ra một nhân vật nguyên mẫu đang hiện hữu bằng xương, bằng thịt trong đời sống thật hôm nay, được đồng nghiệp nể trọng và xã hội tôn vinh, được bạn báo, bạn văn nhiều quốc gia coi là người bạn thân thiết. Rõ ràng, với nội dung được tác giả đề cập, tôi gọi tiểu thuyết của Phạm Quốc Toàn là loại tiểu thuyết chân dung-lịch sử (với nội hàm đó, nhà lý luận văn học Nga Belinxky gọi là tiểu thuyết sử thi-đời tư). Theo tôi, với đặc điểm của thể loại tiểu thuyết này thì Phạm Quốc Toàn đã khá thành công trong quá trình thử nghiệm.

Bằng đam mê nghề báo khi còn là sinh viên khóa I, đại học báo chí; ra trường về công tác tại Báo Quân đội nhân dân, trở thành cây bút xông xáo dọc dài đất nước, nửa cuối đời gắn trọn với mảnh đất phương Nam, liên tục ba khóa là Tỉnh ủy viên, Tổng biên tập Báo Bà Rịa-Vũng Tàu, rồi hai khóa làm Phó chủ tịch chuyên trách Hội Nhà báo Việt Nam, Phạm Quốc Toàn có dịp tiếp xúc hầu hết với các nhà báo gạo cội, các phóng viên tài danh… trong làng báo Việt Nam. Vì vậy, các trang viết trong cuốn tiểu thuyết này ngồn ngộn sự kiện báo chí thời đổi mới, với các tuyến nhân vật tiêu biểu cho cả hành vi tích cực và tiêu cực của người làm báo trong thời cơ chế thị trường. Một diện mạo mới của nền báo chí cách mạng Việt Nam với nhiều gam màu sáng là chủ đạo, nhưng đã và đang bộc lộ cũng như tiềm ẩn nhiều nguy cơ xuống cấp về đạo đức nghề nghiệp báo chí, mà tác giả cùng dư luận xã hội đang cảnh báo và phê phán. Điều đó cắt nghĩa vì sao trong gần 400 trang tiểu thuyết, tác giả tập trung miêu tả, phân tích, lý giải hai câu hỏi cực kỳ quan trọng đang hiện hữu trong thực tiễn báo chí hôm qua và hôm nay: Nhà báo, bạn là ai?; Những tố chất nào cấu thành đạo đức nghề nghiệp nhà báo? Tác giả đã kỳ công sưu tầm, chắt lọc, tìm cách thể hiện chiều sâu những tư liệu, sự kiện, chi tiết đắt giá thông qua nhiều diễn biến hệ trọng của đời sống đất nước và quốc tế cùng thực tiễn tác nghiệp phong phú, đa dạng của đội ngũ làm báo, đã tác động trực tiếp tới suy nghĩ và việc làm nhiệt huyết, bền bỉ của nhân vật Phan Hoàng nhằm góp sức tìm câu trả lời có sức thuyết phục hai câu hỏi lớn nêu trên. Tôi coi đây là thành công quan trọng thứ hai của cuốn tiểu thuyết.

Thành công của cuốn tiểu thuyết, ngoài nội dung thời sự, thì cách thức xây dựng nhân vật điển hình, chọn chi tiết điển hình; cách cấu trúc chương mục hợp lý; sự diễn đạt các sự kiện theo thời gian đan xen quá khứ và hiện tại… để làm nổi rõ chủ đề, quả thật là vấn đề không dễ chút nào, nhất là khi tác giả xây dựng nhân vật Phan Hoàng lấy từ nguyên mẫu của làng báo Việt Nam qua 70 năm hành nghề đầy sôi động. Với cách diễn đạt nhẹ nhàng, uyển chuyển, có điểm dừng, tác giả đã kết hợp hài hòa giữa miêu tả và tự sự, giữa bình luận và đối thoại, giữa hoài niệm và hiện tại… tạo nên những trang viết sống động, hấp dẫn, nhất là những đoạn miêu tả nội tâm nhân vật khi về thăm lại bến sông Nhùng, nhớ về ông bà, cha mẹ, anh em một thời gian khó; những chuyến về nguồn; những kỷ niệm khó quên với các nhà văn: Giáo sư Hoàng Trinh, nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, Chế Lan Viên, Nguyễn Văn Bổng; các nhà báo, nhà văn quốc tế lừng danh, như: Wilfried Burchett, Jean Lacouture, Jaceques Darois, Alain Pecaux; cựu Chủ tịch Liên đoàn Báo chí Thái Lan, ông Bandhit Rajavadhanim… Đặc biệt là lời góp ý chân tình, sâu sắc của Bác Hồ khi Người đọc bài viết của Phan Hoàng về chuyến thăm và làm việc của Bác tại một tỉnh đồng bằng; những cuộc gặp, làm việc với Tổng Bí thư Trường Chinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh… xung quanh “chuyện bếp núc” của báo chí… đã là nguồn nhựa làm nên hồn báo, hồn văn của Phan Hoàng. Nói rộng ra, đó là căn nguyên để diễn đạt chiều sâu cái nghề thật cao quý nhưng vô cùng gian nan, thậm chí đôi khi gặp hiểm nguy của chiến tranh, hoặc sự gian manh, đố kỵ của chính một số đồng nghiệp với lương tâm, động cơ không trong sáng…

Thành công trong khắc họa nhân vật Phan Hoàng, tác giả có may mắn được thừa hưởng những trang nhật ký; những tư liệu sống động trong hàng chục cuốn sách của Phan Hoàng; những cuộc trò chuyện “gan ruột” về đời, về nghề giữa tác giả và nhân vật-điều đó là “chất bột” làm nên các trang viết có hồn, có sức cuốn hút. Nhưng nếu xử lý các tư liệu ấy không “cao tay” rất dễ sa vào tình trạng kể lể, ghi chép dài dòng. Đây là lằn ranh mong manh của người viết tiểu thuyết loại này.

Do vậy, cùng với sự thành công là chủ yếu, cuốn tiểu thuyết đầu tay của Phạm Quốc Toàn còn một số khiếm khuyết không tránh khỏi (như hiện tượng trùng lặp chi tiết; đôi khi sử dụng các nhân vật đối thoại quá dài, gây nặng nề trang viết…), nhưng điều đó không hề che lấp quá trình lao động sáng tạo nghiêm túc, sự đam mê nghề báo đã thấm vào máu của một người hành nghề vừa bước qua tuổi “xưa nay hiếm”. Tôi tâm đắc câu thơ của Mãn giác Thiền sư, được nhà báo Nguyễn Xuân Lương dẫn ra trong bài viết về cuốn tiểu thuyết này của Phạm Quốc Toàn: “Chớ tưởng xuân tàn hoa rụng hết/ Đêm qua sân trước một nhành mai”.

(Đọc tiểu thuyết “Từ bến sông Nhùng” của Phạm Quốc Toàn,

NXb Văn hóa - Văn nghệ - 2019)

Hà Nội, 20-2-2019

NGUYỄN HỒNG VINH

Theo Quân đội nhân dân

Xem thêm

Nữ văn sĩ Canada Anne Carson giành giải Nobel Văn chương 2026

Nữ văn sĩ Canada Anne Carson giành giải Nobel Văn chương 2026

(CLO) Viện Hàn lâm Thụy Điển vừa công bố nữ nhà thơ, nhà văn Canada Anne Carson là chủ nhân Nobel Văn chương 2026, qua đó ghi nhận những sáng tác táo bạo, sáng tạo và khả năng tạo ra những hình thức mới cho văn học đương đại.

Nhà hát Kịch Hà Nội cho ra mắt sản phẩm công nghiệp văn hóa 'Thời khắc'

Nhà hát Kịch Hà Nội cho ra mắt sản phẩm công nghiệp văn hóa 'Thời khắc'

(CLO) Nhân kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô, tối 8/10, tại Rạp Công Nhân, Nhà hát Kịch Hà Nội cho ra mắt “Thời khắc” - sản phẩm công nghiệp văn hóa kết hợp lịch sử, di sản, nghệ thuật sân khấu và công nghệ. Sự kiện cũng đánh dấu thời điểm Rạp Công Nhân sáng đèn trở lại sau quá trình tu sửa, nâng cấp cơ sở vật chất.

Nghệ nhân Nguyễn Tấn Phát: ‘Hãy để người dân được sống cùng văn hóa, thay vì chỉ đến xem’

Nghệ nhân Nguyễn Tấn Phát: ‘Hãy để người dân được sống cùng văn hóa, thay vì chỉ đến xem’

(CLO) Theo nghệ nhân Nguyễn Tấn Phát, muốn văn hóa hiện diện thường xuyên trong đời sống, trước hết cần thay đổi tư duy “chỉ tổ chức sự kiện”. Văn hóa không thể chỉ xuất hiện trong một vài lễ hội, mà cần được tạo dựng và duy trì bằng những hoạt động gần gũi, thiết thực mỗi ngày.

Đưa di sản văn hóa vào nền kinh tế sáng tạo bằng AI

Đưa di sản văn hóa vào nền kinh tế sáng tạo bằng AI

(CLO) Diễn đàn “Công nghệ số và AI trong kiến tạo nền kinh tế sáng tạo - Từ tài nguyên văn hóa đến năng lực cạnh tranh quốc gia” mở ra những góc nhìn mới về việc ứng dụng công nghệ để bảo tồn, phát huy và thương mại hóa các giá trị văn hóa Việt Nam.

Dấu ấn 50 năm Việt Nam kiến tạo tương lai di sản

Dấu ấn 50 năm Việt Nam kiến tạo tương lai di sản

(NB&CL) Hội nghị Đối thoại châu Á - Thái Bình Dương về Di sản và Tính xác thực được tổ chức từ ngày 27/9 đến ngày 1/10/2026 tại Hà Nội và Ninh Bình không chỉ mở ra những cách nhận diện, bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong bối cảnh đương đại, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong vị thế của Việt Nam: Từ quốc gia tiếp nhận tri thức bảo tồn đến chủ động đóng góp, khởi xướng và tham gia định hình các định hướng, chính sách di sản ở khu vực và trên thế giới.

Từ Quốc Tử Giám Thăng Long đến truyền thống hiếu học xứ Nghệ

Từ Quốc Tử Giám Thăng Long đến truyền thống hiếu học xứ Nghệ

(CLO) Mới đây, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám phối hợp với Bảo tàng Nghệ An - Xô Viết Nghệ Tĩnh tổ chức trưng bày chuyên đề “Quốc Tử Giám Thăng Long với truyền thống hiếu học tỉnh Nghệ An”, nhân kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076 - 2026).

Cỡ chữ bài viết: