Đây là ý kiến của các doanh nghiệp FDI đưa ra tại Tọa đàm “Kết nối doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu” ngày 8/10. Tọa đàm do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức để tuyên truyền về việc thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 280/NQ-CP của Chính phủ. Một trong những vấn đề trọng tâm của Tọa đàm là làm thế nào để biến nguồn lực quốc tế thành năng lực nội sinh của nền kinh tế Việt Nam, thông qua tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp Việt Nam.
Nguy cơ “ốc đảo” vẫn hiện hữu
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã có những đóng góp rất quan trọng với Việt Nam nhưng vẫn chưa được như kỳ vọng. Liên kết giữa khu vực trong nước và khu vực FDI còn hạn chế, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển chưa được như mong muốn. Tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu còn chưa cao…
“Đấy cũng chính là một trong những lý do để Bộ Chính trị quyết định ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đánh dấu một bước ngoặt mang tính chiến lược, thay đổi toàn diện phương thức và tư duy thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn mới”, Thứ trưởng Bộ Tài chính - ông Trần Quốc Phương phát biểu tại Toạ đàm.
Từ góc độ cơ quan quản lý Nhà nước, bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính ) nêu thực trạng: “Tỷ trọng của khối FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đang ngày càng tăng. Xét về tính tự chủ của nền kinh tế, đây là con số đáng lo lắng. Nếu không có giải pháp đột phá, khối FDI sẽ tồn tại như những “ốc đảo” tăng trưởng riêng biệt, không tạo ra giá trị lan tỏa bền vững cho nền kinh tế nội địa”.
Tăng cường liên kết không phải là mong muốn từ một phía, các doanh nghiệp FDI cũng bày tỏ mong muốn thúc đẩy mối liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam và có nhiều DN Việt tham gia nhiều hơn sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
“Các nhà đầu tư đang đặt ra những câu hỏi rộng hơn: Việt Nam có thể hỗ trợ các chuỗi cung ứng phức tạp và có khả năng chống chịu hay không? Và hệ sinh thái có thể hỗ trợ quá trình mở rộng trong dài hạn hay không?”, ông Kamijo Hiroki, Phó Tổng Giám đốc kiêm Giám đốc khối Ngân hàng giao dịch và Đầu tư nước ngoài - Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) cho biết.
Chương mới về FDI ở Việt Nam
Theo thông tin từ bà Bùi Thu Thuỷ, gần đây, các tập đoàn FDI đã cởi mở hơn rất nhiều và họ đã chủ động tìm kiếm sự phối hợp với Chính phủ để xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam.
Ông Cha Ji Ho, Phó Tổng giám đốc phụ trách Trung tâm mua hàng của Samsung Việt Nam cho biết: Samsung đã và đang không ngừng thúc đẩy các chương trình hợp tác với Chính phủ và ngành công nghiệp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản xuất cho các doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời tạo điều kiện để những doanh nghiệp có đủ năng lực cạnh tranh có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của Samsung.
Sau khi liệt kê ra rất nhiều những hoạt động hợp tác nổi bật nhằm bồi dưỡng ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, theo ông Cha-Ji Ho: “Với nền tảng triết lý kinh doanh đồng thịnh vượng, Samsung đã kết nối việc nâng cao năng lực cạnh tranh sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam với mục tiêu xây dựng chuỗi cung ứng của Samsung ngày càng ổn định và vững chắc hơn”.
Để liên kết, với doanh nghiệp Việt Nam, cần nâng cao năng suất và chất lượng, tự tích lũy năng lực sản xuất. Với Samsung, điều quan trọng là củng cố tính ổn định của chuỗi cung ứng và mở rộng nội địa hóa linh kiện. “Hai định hướng này gặp nhau ở một điểm chung: đó là mô hình phát triển đồng hành theo hướng Win-Win (cùng có lợi), mang lại cơ hội tăng trưởng cho các doanh nghiệp Việt Nam và giúp Samsung xây dựng một chuỗi cung ứng cạnh tranh, ổn định hơn. Và mục tiêu không dừng ở tăng số lượng đối tác giao dịch mà là cùng kiến tạo một hệ sinh thái sản xuất để cùng phát triển bền vững", ông Cha-Ji Ho nói.
Các phát biểu tại Toạ đàm của các doanh nghiệp cho thấy cách thức nhìn nhận và thảo luận về đầu tư đang thay đổi. Việt Nam không còn chỉ được đánh giá là một cơ sở sản xuất có tính cạnh tranh. Ngày càng nhiều nhà đầu tư nhìn nhận Việt Nam như một nền tảng dài hạn cho chuỗi cung ứng có khả năng chống chịu, nguồn vốn, nhân tài, và đổi mới sáng tạo, tăng trưởng bền vững.
Ông Kamijo Hiroki, Phó Tổng Giám đốc kiêm Giám đốc khối Ngân hàng giao dịch và Đầu tư nước ngoài - Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank), lại cho rằng: chương tiếp theo của tăng trưởng FDI tại Việt Nam là cần vượt lên trên lợi thế chi phí. Chương mới phải được kiến tạo dựa trên lợi thế hệ sinh thái. Đó là một hệ sinh thái nơi nguồn vốn, năng lực, nhân tài, phát triển bền vững và các mối quan hệ đối tác tương hỗ và củng cố lẫn nhau. “Tăng trưởng bền vững sẽ được tạo nên bởi một hệ sinh thái cùng phối hợp hành động”, theo ông Kamijo Hiroki.
Sử dụng FDI như “chất xúc tác”
DN Việt vẫn rất khó khăn để vào được chuỗi cung ứng, mối liên kết DN Việt và FDI còn lỏng lẻo, bởi nhiều rào cản từ hai phía. DN Việt Nam vẫn còn hạn chế cả về số lượng lẫn năng lực đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn lớn và khả năng cạnh tranh với các nhà cung cấp đã có vị trí vững chắc trong hệ thống của các tập đoàn đa quốc gia.
Nhưng đây không phải nguyên nhân duy nhất khiến doanh nghiệp nội địa khó tham gia chuỗi cung ứng, theo bà Trương Thị Chí Bình, Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI). Phần lớn các tập đoàn đa quốc gia đã xây dựng được mạng lưới nhà cung cấp ổn định ở nước ngoài và họ mang cả hệ sinh thái nhà cung cấp vào Việt Nam. Không ít DN FDI chưa thực sự tin tưởng ở năng lực cung cấp của doanh nghiệp trong nước.
TS Jackson Woo, Tổng giám đốc SGS Việt Nam lại gợi mở: Việt Nam không nên chỉ xem doanh nghiệp FDI là nguồn vốn, cần sử dụng FDI như “chất xúc tác” để phát triển năng lực chuỗi cung ứng trong nước. Ông cũng cho rằng, nếu không xây dựng được niềm tin với các khách hàng toàn cầu, doanh nghiệp sẽ không bao giờ có cơ hội trở thành nhà cung ứng của họ. Để có niềm tin phải đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế đây chính là tấm vé cơ bản để bước vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Bên cạnh đó, DN cần chứng minh cam kết của mình đối với chất lượng và tính minh bạch; Tiếp đó là đào tạo nguồn nhân lực và giữ chân nhân tài.
Các ý kiến tại Toạ đàm cho thấy, việc đưa doanh nghiệp Việt Nam bước sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu không chỉ là câu chuyện nâng cao năng lực đơn lẻ của từng DN, mà là quá trình kiến tạo một hệ sinh thái đồng hành dài hạn. Khi các cơ chế chính sách kiến tạo từ Nhà nước, nguồn lực hỗ trợ từ khối FDI và sự nỗ lực chuẩn hóa của doanh nghiệp nội gặp nhau ở điểm chung "cùng có lợi", Việt Nam sẽ từng bước chuyển hóa thành công nguồn lực quốc tế thành năng lực nội sinh, vươn lên trở thành một mắt xích vững chắc trong mạng lưới sản xuất toàn cầu.