Theo Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hồ An Phong vừa ký Quyết định số 2331/QĐ-BVHTTDL, ban hành Chương trình hành động thực hiện Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Quy hoạch hệ thống du lịch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 509/QĐ-TTg ngày 13/6/2024. Nội dung quy hoạch sau đó được điều chỉnh, cập nhật theo Quyết định số 374/QĐ-BVHTTDL ngày 28/2/2026 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, phù hợp với việc sắp xếp đơn vị hành chính và những thay đổi về thể chế, chính sách.
Chương trình hành động đặt ra yêu cầu tổ chức thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đã được phê duyệt. Mục tiêu đến năm 2030 là đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, duy trì vị trí trong nhóm dẫn đầu Đông Nam Á về quy mô và tốc độ tăng trưởng, đồng thời chuyển dần sang mô hình phát triển xanh, tuần hoàn.
Hướng tới 80-90 tỷ USD tổng thu từ khách du lịch
Theo mục tiêu đề ra, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu đón từ 45-50 triệu lượt khách quốc tế, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 16-19% mỗi năm. Thị trường nội địa được kỳ vọng đạt khoảng 160 triệu lượt khách, tăng trưởng từ 3% mỗi năm.
Tổng thu từ khách du lịch dự kiến đạt 80-90 tỷ USD, đóng góp trực tiếp khoảng 10-12% GDP. Hệ thống cơ sở lưu trú cần đáp ứng khoảng 1,5 triệu buồng; cả nước phấn đấu có 20 khu du lịch quốc gia được công nhận.
Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam cho biết, Chương trình hành động được xây dựng trên cơ sở bám sát mục tiêu, định hướng và giải pháp của Quy hoạch đã điều chỉnh. Nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị được phân công cụ thể, gắn với sản phẩm đầu ra và thời hạn hoàn thành.
Việc triển khai Quy hoạch phải bảo đảm sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành và địa phương. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ huy động các nguồn lực phục vụ phát triển du lịch, trong đó khu vực tư nhân giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư; đồng thời tổ chức đánh giá định kỳ để điều chỉnh Chương trình hành động phù hợp với tình hình thực tế.
Phát triển du lịch cũng phải gắn với bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh tại khu vực biên giới, cửa khẩu, biển, đảo.
Các chương trình, dự án không được ảnh hưởng đến công trình biên giới, công trình quốc phòng, khu vực cấm, khu vực quân sự cũng như hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia và kiểm soát xuất, nhập khẩu.
Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam được giao làm cơ quan đầu mối, chịu trách nhiệm toàn diện trước Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong quá trình triển khai Quy hoạch.
Cơ quan này có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị chức năng thuộc bộ, ngành và địa phương nghiên cứu, đánh giá các yếu tố liên quan đến quốc phòng, an ninh trong từng chương trình, kế hoạch, dự án và nhiệm vụ cụ thể.
Các dự án, quy hoạch liên quan đến du lịch phải phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị và nông thôn, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chuyên ngành cùng những quy hoạch khác đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Các địa phương phải báo cáo tình hình thực hiện Quy hoạch về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trước ngày 15/12 hằng năm.
Bảy nhóm nhiệm vụ trọng tâm
Chương trình hành động xác định bảy nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, gồm: hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật; tổ chức không gian du lịch và phát triển đầu tư; phát triển sản phẩm; mở rộng thị trường; chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ; phát triển nguồn nhân lực; bảo vệ tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững.
Đối với thể chế, chính sách, ngành du lịch sẽ tập trung rà soát, đánh giá và đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Du lịch năm 2017 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành. Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về du lịch tiếp tục được hoàn thiện.
Các quy định về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ nhân lực du lịch cũng được nghiên cứu theo hướng phù hợp với tiêu chuẩn nghề ASEAN.
Về tổ chức không gian và thu hút đầu tư, Chương trình yêu cầu lập quy hoạch chung, tạo cơ sở phát triển hạ tầng đồng bộ tại 10 khu du lịch quốc gia đã được công nhận và những địa điểm có tiềm năng trở thành khu du lịch quốc gia.
Những khu du lịch đã đáp ứng đầy đủ điều kiện cần được đẩy nhanh việc lập hồ sơ đề nghị công nhận. Nguồn lực đầu tư sẽ được ưu tiên cho các cực tăng trưởng, khu vực động lực và trung tâm du lịch.
Hệ thống giao thông kết nối đến các trung tâm, khu du lịch quốc gia và địa điểm có tiềm năng phát triển du lịch cũng sẽ được rà soát, đồng bộ. Các loại hình được chú trọng gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải và hàng không.
Để nâng sức cạnh tranh, sản phẩm du lịch được định hướng phát triển theo hướng đa dạng, có chất lượng và phù hợp với nhu cầu của từng thị trường. Trong đó, ngành du lịch chú trọng các sản phẩm biển đảo cao cấp, nghỉ dưỡng sinh thái, di sản văn hóa và du lịch đô thị gắn với kinh tế ban đêm.
Những loại hình như du lịch MICE, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe, du lịch cộng đồng, nông nghiệp, nông thôn, thể thao mạo hiểm, du thuyền, giáo dục, cửa khẩu và biên giới cũng được khuyến khích phát triển trên nguyên tắc có kiểm soát.
Hoạt động xúc tiến, quảng bá sẽ tập trung tại các thị trường trọng điểm gồm Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Australia, châu Âu, Bắc Mỹ, Ấn Độ và Trung Đông. Bên cạnh việc khôi phục thị trường truyền thống, ngành du lịch sẽ tiếp tục nghiên cứu, khai thác những thị trường mới có tiềm năng.
Hoạt động tiếp thị điện tử, quảng bá trên nền tảng số và chiến dịch “Việt Nam - điểm đến an toàn, thân thiện, hấp dẫn” tiếp tục được triển khai. Mạng lưới văn phòng xúc tiến du lịch Việt Nam tại các thị trường trọng điểm, tiềm năng cũng được nghiên cứu thiết lập theo mô hình phù hợp.
Chuyển đổi số được xác định là một trong những giải pháp tạo động lực cho giai đoạn phát triển mới. Ngành du lịch sẽ từng bước xây dựng hệ sinh thái thông minh, phát triển phần mềm và ứng dụng phục vụ khách du lịch, doanh nghiệp, hướng dẫn viên và cơ quan quản lý nhà nước.
Nền tảng kết nối doanh nghiệp du lịch với các hệ thống thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục được hoàn thiện, qua đó nâng cao hiệu quả kinh doanh và chất lượng trải nghiệm của du khách.
Cùng với công nghệ, nguồn nhân lực được coi là yếu tố cốt lõi. Việc chuẩn hóa lao động theo tiêu chuẩn nghề ASEAN phải gắn với Khung trình độ quốc gia Việt Nam, chuẩn chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra và quy định của pháp luật về giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp.
Đội ngũ nhân lực cần được bồi dưỡng năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, Internet vạn vật và các công nghệ số trong quản trị, kinh doanh, cung cấp dịch vụ.
Chương trình cũng yêu cầu tăng cường liên kết đào tạo quốc tế; mở rộng hợp tác giữa cơ sở giáo dục, doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp và địa phương trong đào tạo, thực tập, thực hành, đặt hàng nhân lực và giải quyết việc làm cho người học.
Đối với phát triển bền vững, ngành du lịch sẽ xây dựng bộ tiêu chí du lịch xanh, triển khai thí điểm tại một số khu du lịch trọng điểm trước khi nhân rộng trong giai đoạn 2027-2030.
Mục tiêu đến năm 2030 là loại bỏ hoàn toàn sản phẩm nhựa dùng một lần tại các khu, điểm du lịch, cơ sở lưu trú và cơ sở kinh doanh dịch vụ ven biển, từng bước chuyển sang phương thức vận hành theo hướng kinh tế tuần hoàn.
Các trung tâm và khu du lịch quốc gia được đầu tư hệ thống xử lý chất thải, nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn. Việc bảo tồn cảnh quan, hệ sinh thái tự nhiên, tài nguyên rừng, đất ngập nước và đa dạng sinh học phải được thực hiện song song với khai thác du lịch.
Chương trình đồng thời đặt ra yêu cầu giảm phát thải, nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu tại các khu, điểm du lịch, nhất là khu vực ven biển và hải đảo; tăng cường tuyên truyền về du lịch có trách nhiệm, bảo vệ môi trường và gìn giữ di sản.