Điều chỉnh kích thước chữ

Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi): Ba nội dung dư luận đặc biệt quan tâm

(CLO) Đại biểu Quốc hội đề nghị cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra và các cơ quan hữu quan hoàn thiện các báo cáo đánh giá tác động Bộ luật Lao động (sửa đổi); lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân; tăng cường truyền thông để tạo sự đồng thuận trong xã hội.

Báo nói Công luận
Tại phiên họp thứ 36, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về một số vấn đề còn ý kiến khác nhau của dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi). Ảnh: quochoi.vn

Tại phiên họp thứ 36, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về một số vấn đề còn ý kiến khác nhau của dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi). Ảnh: quochoi.vn

Sửa đổi toàn diện Bộ luật Lao động

Thảo luận về dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi), tại Phiên họp thứ 36 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đánh giá, Bộ luật Lao động là một bộ luật lớn, quan trọng, phức tạp có sức ảnh hưởng và tác động lớn đến tình hình kinh tế, xã hội của đất nước trước mắt và lâu dài. Do vậy, ngoài việc sửa đổi để đáp ứng các hiệp định mà Việt Nam tham gia, thì lần sửa đổi này cần tính đến các nhu cầu, chiến lược phát triển của đất nước.

Chủ tịch Quốc hội cũng đề nghị công tác lấy ý kiến nhân dân cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá; đẩy mạnh việc tuyên truyền rộng rãi về tinh thần của Bộ Luật sửa đổi tới các đối tượng, tầng lớp nhân dân để hiểu đúng và rõ về việc sửa đổi Luật.

Nhiều ý kiến cũng cho rằng, Bộ luật Lao động sửa đổi lần này gần như toàn diện, với nhiều nội dung mới, nhạy cảm chưa có tiền lệ, đặc biệt là vấn đề nâng tuổi nghỉ hưu.

Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV, ý kiến của Văn phòng giới chủ, các Hiệp hội Doanh nghiệp và một số cử tri, Ủy ban Về các vấn đề xã hội đã tiếp thu, giải trình, chỉnh lý một bước dự thảo Bộ luật. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau của dự thảo Bộ luật cần tiếp tục thảo luận, lấy ý kiến rộng rãi; trong đó có những vấn đề dư luận hết sức quan tâm, đó là về tiền lương, tiền lương làm thêm giờ; việc mở rộng khung thỏa thuận thời giờ làm thêm tối đa; về tuổi nghỉ hưu.

Tiền lương phải bảo đảm mức sống tối thiểu

Về tiền lương, Báo cáo 2216/BC-UBVĐXH14 của Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội cho biết, dự thảo Bộ luật chỉnh lý theo hướng quy định mức lương tối thiểu “phải bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ”. Chính phủ quyết định, công bố mức lương tối thiểu như quy định của Bộ luật Lao động hiện hành, Thủ tướng Chính phủ thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng Tiền lương quốc gia.

Về tiền lương làm thêm giờ, Ủy ban Về các vấn đề xã hội dự kiến hai phương án. Phương án 1 như dự thảo do Chính phủ trình, theo đó quy định làm thêm vào ngày thường, trả lương ít nhất bằng 150%; vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%; vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300%; làm thêm giờ vào ban đêm còn được trả thêm ít nhất 20%.

Phương án 2: được thiết kế trên cơ sở ý kiến của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là trả lương lũy tiến đối với thời gian làm thêm giờ tính theo số giờ làm thêm trong ngày và có sự khác biệt tương ứng với làm thêm giờ trong ngày thường, ngày nghỉ hằng tuần, ngày lễ, tết và ngày nghỉ có hưởng lương.

Theo Ủy ban Về các vấn đề xã hội, cả hai phương án thực chất đều là trả lương theo lũy tiến. Phương án 2 được đề xuất nhằm để người sử dụng lao động cân nhắc, tính toán khi có nhu cầu, nếu thấy thật sự cần thiết và bảo đảm hiệu quả mới huy động làm thêm giờ, trên cơ sở thỏa thuận của hai bên. Tuy nhiên, trên thực tế, khi người sử dụng lao động chỉ tổ chức cho người lao động làm thêm tối đa không quá 2 giờ/ngày thì việc tính lũy tiến theo phương án 2 cũng không có nhiều ý nghĩa. Ngoài ra, cũng cần tính đến các lao động làm thêm giờ mang tính đặc thù như trực theo ca của cán bộ y tế, lái xe, bảo vệ.

Kéo dài giờ làm thêm: Cần cân nhắc kỹ lưỡng

Một số đại biểu Quốc hội tán thành việc mở rộng khung thỏa thuận về giờ làm thêm tối đa lên 400 giờ/năm (tăng 100 giờ so với quy định hiện hành) nhưng chỉ áp dụng đối với một số ngành, nghề nhất định, trả tiền lương lũy tiến cho thời gian làm thêm giờ và khống chế số giờ làm thêm tối đa theo tháng.

Về vấn đề này, Ủy ban Về các vấn đề xã hội cho rằng, cần cân nhắc kỹ lưỡng và tiếp tục đề nghị quan tâm đến ý kiến của Ủy ban khi thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động (năm 2002) và thẩm tra dự án Bộ luật Lao động (năm 2012).

Mặc dù trên thực tế, nhu cầu làm thêm giờ là có thật; từ phía người lao động bản chất là do tiền lương và thu nhập chưa bảo đảm trang trải cuộc sống; từ phía người sử dụng lao động là do nhu cầu sản xuất, kinh doanh và tùy theo từng thời điểm. Tuy nhiên, hiện nay, Bộ luật hiện hành đã có quy định nguyên tắc thỏa thuận khi làm thêm giờ, nhưng việc thực hiện rất khó khăn, hạn chế, tình trạng vi phạm về thời giờ làm thêm khá phổ biến.

Ủy ban Về các vấn đề xã hội nhấn mạnh, việc kéo dài thời giờ làm thêm là đi ngược lại với xu hướng tiến bộ. Việc mở rộng khung thời gian làm thêm giờ tối đa trong trường hợp đặc biệt là 400 giờ/năm gấp 2 lần tổng số giờ làm thêm tối đa trong trường hợp bình thường luật định (200 giờ/năm) và bằng 50 ngày làm việc bình thường là vấn đề mà Cơ quan soạn thảo cần có giải trình thấu đáo cùng với mối quan hệ với thời giờ làm việc thực tế, tiền lương thực tế, hiệu quả, năng suất lao động và giải quyết việc làm...

Bên cạnh đó, việc tăng thời giờ làm thêm trong điều kiện công tác thanh tra, kiểm tra, chế tài xử lý vi phạm còn hạn chế sẽ có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp lợi dụng thời giờ làm thêm khai thác sức lao động, dẫn đến hậu quả người lao động sẽ cạn kiệt sức lao động sớm hơn so với tuổi lao động.

Cần thêm cơ sở khoa học về tuổi nghỉ hưu

Nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội tán thành với quy định về lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu đến năm 2028 sẽ có lao động nam đầu tiên nghỉ hưu ở độ tuổi 62 và năm 2035 sẽ có lao động nữ đầu tiên nghỉ hưu ở độ tuổi 60.

Tuy nhiên, một số ý kiến đại biểu còn băn khoăn về quy định nâng tuổi nghỉ hưu so với hiện hành và đề nghị làm rõ về việc quy định chênh lệch tuổi nghỉ hưu giữa lao động nam và lao động nữ; đồng thời cũng cho rằng việc quy định này sẽ dẫn đến nhiều tranh luận khác nhau giữa “tuổi nghỉ hưu” và “tuổi nghề”.

Người lao động trực tiếp sản xuất ở doanh nghiệp chưa có sự đồng thuận cao về quy định tăng tuổi nghỉ hưu. Ảnh minh họa

Người lao động trực tiếp sản xuất ở doanh nghiệp chưa có sự đồng thuận cao về quy định tăng tuổi nghỉ hưu. Ảnh minh họa

Theo Ủy ban Về các vấn đề xã hội, đề xuất quy định điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu của người lao động nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 28-NQ/TW và với mục tiêu lâu dài để chủ động chuẩn bị ứng phó với quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh của Việt Nam. Việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu cần lộ trình điều chỉnh chậm sẽ có tác động tốt hơn đến tâm lý xã hội của người lao động và doanh nghiệp, tránh tác động, phản ứng quá mạnh đối với người lao động và thị trường lao động.

Ủy ban Về các vấn đề xã hội nhấn mạnh thêm: Việc quy định về tuổi nghỉ hưu cần phải được khẳng định là tuổi nghỉ hưu chung của quốc gia đối với người lao động; việc quy định quyền được nghỉ hưu sớm hơn 5 năm chưa thực sự phù hợp với thực tiễn, cần phải được cân nhắc để điều chỉnh nghỉ hưu sớm hơn 10 năm đối với một số công việc đặc biệt như làm việc khai thác than trong hầm lò, người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn, rủi ro nghề nghiệp… Việc quy định quyền được nghỉ hưu cao hơn không quá 5 năm so với tuổi nghỉ hưu chung cũng phải được hướng dẫn cụ thể hơn đối với một số ngành, lĩnh vực đang kéo dài tuổi nghỉ hưu cao hơn cả mức 5 năm như giáo dục, y tế…

Theo Ủy ban Về các vấn đề xã hội, vừa qua, việc lấy ý kiến dư luận người lao động, nhất là người lao động trực tiếp sản xuất, đứng máy dây chuyền… ở doanh nghiệp, thì chưa có sự đồng thuận cao về quy định tăng tuổi nghỉ hưu, đòi hỏi cần có thời gian để tiếp tục tham vấn, lấy ý kiến rộng rãi các đối tượng khác nhau và quan tâm hơn công tác truyền thông trong thời gian tới.

Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ luật Lao động hiện hành có nhiều bất cập, vướng mắc về hợp đồng lao động, tiền lương, thời gian làm việc, kỷ luật lao động, lao động nữ, lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam... Bên cạnh đó, khoảng thời gian soạn thảo Bộ luật Lao động 2012 trùng với thời gian soạn thảo Hiến pháp năm 2013 nên có nhiều nội dung mà Bộ luật Lao động chưa thể hiện hết các quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Ngoài ra, Việt Nam đã tham gia vào một loạt các Hiệp định thương mại tự do khu vực và toàn cầu với các yêu cầu, nghĩa vụ chấp hành các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động của người lao động theo Tuyên bố năm 1998 của Tổ chức Lao động quốc tế. Do đó, từ năm 2013, Chính phủ đã có nhiều kiến nghị gửi tới Quốc hội về các vướng mắc trong quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động.

Thế Vũ