Điều chỉnh kích thước chữ

Học thuyết của Joe Biden: 5 trụ cột chiến lược và 3 dấu hỏi nghi ngờ

(CLO) Năm trụ cột trong chiến lược chính sách đối ngoại mới của Hoa Kỳ trông rất tuyệt vời trên giấy tờ nhưng lại có vẻ không khả thi trên thực tế.

Audio
Tổng thống Joe Biden xây dựng nước Mỹ theo chiến lược chính sách đối ngoại với 5 trụ cột - Ảnh: Getty

Tổng thống Joe Biden xây dựng nước Mỹ theo chiến lược chính sách đối ngoại với 5 trụ cột - Ảnh: Getty

Bài liên quan

Mỹ, đất nước của những học thuyết  

Ba thập kỷ sau khi Hoa Kỳ nổi lên từ Chiến tranh Lạnh với tư cách là siêu cường thế giới không thể tranh cãi, chính quyền Biden đang kế thừa một đất nước thừa thãi, quá cường điệu và quá tải, nhờ một phần không nhỏ vào các chính sách tân tự do và tân bảo thủ đồ sộ và liều lĩnh của những người tiền nhiệm.

Chính quyền Bush Sr (Bush cha) đã chủ trì việc mở rộng địa chính trị chưa từng có sau khi Liên Xô và Hiệp ước Warsaw tan rã, dẫn đầu việc mở rộng NATO và phát động Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, mở đường cho sự hiện diện quân sự thường xuyên của Hoa Kỳ ở Trung Đông.

Tiếp theo là học thuyết của chính quyền Clinton “từ kiềm chế đến mở rộng” theo đuổi chính sách đối ngoại tân tự do nhằm “mở rộng thị trường và nền dân chủ” ở Đông Âu và các nơi khác.

Sau đó là “tổng thống thời chiến” Bush Jr (Bush con), sau vụ tấn công 11/9, đã bắt tay vào cái gọi là “cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu” và phát động hai cuộc chiến tranh lớn trong vòng hai năm.

Chính quyền Obama đã tập trung lại những nỗ lực của mình vào việc tái thiết nền kinh tế Mỹ sau những cuộc chiến thảm khốc này và cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Nó đòi hỏi cắt giảm các cam kết chiến lược của Hoa Kỳ trên toàn thế giới và “xoay trục sang châu Á” trong một nỗ lực thất bại nhằm kiềm chế một Trung Quốc đang trỗi dậy về mặt quân sự và kinh tế.

Chính quyền Trump đã đi theo bước chân của người tiền nhiệm, mặc dù theo cách thức dân túy và hỗn loạn. Nhưng thay vì dẫn dắt đất nước về phía trước, Tổng thống Donald Trump đã gợi lại một thời kỳ đã qua trong một nỗ lực không mạch lạc để “làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”.

Là một thượng nghị sĩ tại nhiệm lâu năm, Joe Biden đã ủng hộ các cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ ở Grenada và Panama trong những năm 1980; ở Balkan vào những năm 1990, và ở Afghanistan và Iraq trong những năm 2000. Lần duy nhất ông phản đối chiến tranh - cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 - sau đó ông đã hối hận về điều đó.

Tất cả những điều này vẽ ra một hình mẫu rõ ràng về tính cách “diều hâu” của vị Tổng thống thứ 46 của Mỹ.

Tuy nhiên, ông Joe Biden cũng lấy làm tiếc vì đã ủng hộ cuộc Chiến tranh vùng Vịnh năm 2003 thảm khốc và từ đó không ủng hộ hành động quân sự của Hoa Kỳ, bao gồm sự gia tăng quân sự ở Afghanistan, NATO ném bom Libya và thậm chí là “lằn ranh đỏ” của Tổng thống Barack Obama ở Syria, đe dọa trừng phạt chế độ Syria nếu nước này sử dụng vũ khí hóa học.

Lúc này, dễ nhận thấy sự thận trọng có thể sẽ chiếm ưu thế trong chiến lược chính sách đối ngoại của chính quyền Biden trong 4 năm tới, cùng với việc chú trọng nhiều hơn vào việc tăng cường chủ nghĩa đa phương và định hình lại địa kinh tế.

Điều này thể hiện rõ ràng trong chương trình nghị sự về an ninh quốc gia của Joe Biden, chương trình hứa hẹn sẽ khôi phục sự thịnh vượng và vai trò lãnh đạo của Mỹ.

Chương trình nghị sự dựa trên một nghiên cứu, được thực hiện bởi các cựu chiến binh của chính quyền Obama tại tổ chức tư vấn Washington, The Carnegie Endowment for International Peace, hay Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế. Nó xem xét nước Mỹ trong suốt 30 năm qua và đề xuất một "chính sách đối ngoại cho tầng lớp trung lưu".

Hai trong số các tác giả, Jake Sullivan và Salman Ahmed, lần lượt trở thành cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Joe Biden và giám đốc Hoạch định Chính sách của Bộ Ngoại giao. Nhưng chương trình đó thực sự có nghĩa là gì? Và nó sẽ hoạt động như thế nào?

Trụ cột đầu tiên của chương trình nghị sự này lặp lại học thuyết “Nước Mỹ trên hết” của Trump nhưng có một cái nhìn rộng hơn, tiến bộ hơn về địa kinh tế ngoài thương mại trong sản xuất hàng hóa. Vì vậy, trong khi chính quyền Biden bảo vệ thương mại tự do, nó cam kết bù đắp bất kỳ thiệt hại nào về tài sản thế chấp thông qua các khoản đầu tư trong nước phục vụ tầng lớp trung lưu Mỹ.

Trụ cột thứ hai giả định một cách đúng đắn rằng toàn cầu hóa “đã mang lại lợi ích không cân xứng cho những người có thu nhập cao nhất của quốc gia và các công ty đa quốc gia, đồng thời làm trầm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng kinh tế đang gia tăng trong nước” và do đó cam kết cải tiến cơ chế thương mại để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người Mỹ bình thường.

Trụ cột thứ ba mô tả một cách tiếp cận sáng tạo hơn, phá vỡ các lỗ hổng trong nước và nước ngoài để đưa ra chính sách đối ngoại đáp ứng tốt hơn nhu cầu trong nước. Điều này đã trở thành một ưu tiên khi đại dịch virus Corona bùng phát, vì Mỹ và các quốc gia phát triển khác nhận thấy mình phụ thuộc vào Trung Quốc và những nước khác để cung cấp nguồn cung cấp y tế thiết yếu.

Trụ cột thứ tư công nhận một cách khôn ngoan sự cần thiết phải “loại bỏ” các mục tiêu chính sách đối ngoại cao cả hoặc kiêu ngạo mà tách rời khỏi nhu cầu trong nước và dự đoán chuyển chi tiêu quốc phòng sang nghiên cứu và phát triển nhằm nâng cao lợi thế đổi mới của Hoa Kỳ. Nó ủng hộ việc từ bỏ quan hệ giao dịch áp đặt kiểu Trump để ủng hộ sự tham gia rộng rãi và mang tính xây dựng với cộng đồng quốc tế.

Trụ cột thứ năm tìm cách khôi phục uy tín quốc tế đối với vai trò lãnh đạo của Mỹ và củng cố các liên minh hiện có, đồng thời để ngỏ cánh cửa cải thiện quan hệ với các đối thủ toàn cầu như Trung Quốc và Nga.

Vì vậy, mặc dù ban đầu có thể có lập trường cứng rắn đối với Moscow và Bắc Kinh, chính quyền Biden có thể sẽ áp dụng một cách tiếp cận thực dụng đối với an ninh quốc gia, vốn bác bỏ ý tưởng khôi phục vị thế thống trị của Mỹ trong một thế giới đơn cực, leo thang Chiến tranh Lạnh mới với Trung Quốc, hoặc tiến hành một cuộc chiến tranh vũ trụ giữa các nền dân chủ trên thế giới và các chính phủ độc tài.

Tổng thống Joe Biden xây dựng kế hoạch dài hơi để đưa nước Mỹ vĩ đại trở lại. Nhưng có nhiều nghi ngờ về tính khả thi của chương trình nghị sự đầy tham vọng của Tổng thống đảng Dân chủ - Ảnh: Reuters

Tổng thống Joe Biden xây dựng kế hoạch dài hơi để đưa nước Mỹ vĩ đại trở lại. Nhưng có nhiều nghi ngờ về tính khả thi của chương trình nghị sự đầy tham vọng của Tổng thống đảng Dân chủ - Ảnh: Reuters

Học thuyết của Biden, tham vọng cho cả thập kỷ

Chương trình nghị sự cho thấy sự tham vọng của chính quyền Biden, nhưng nó có thể cần nhiều năm nếu không muốn nói là nhiều thập kỷ để thành hiện thực. Tại sao?

Đầu tiên, nó đi ngược lại với sự hiểu biết thông thường về việc thiết lập chính sách đối ngoại của Washington, mà một cựu cố vấn của Obama đã chế nhạo gọi là "Vết đốm".

Thứ hai, có rất ít khả năng để khôi phục, sửa chữa hay làm lại, vì thế giới đã chuyển hóa và thay đổi rất nhiều  kể từ Chiến tranh Lạnh.

Và thứ ba, vị tổng thống 78 tuổi là một người có tính liên tục, hay thỏa hiệp và luôn thích tìm kiếm sự đồng thuận. Joe Biden không phải là mẫu người mạnh mẽ, sẵn sàng đưa ra hành động cần thiết để triển khai chương trình nghị sự đầy tham vọng này. Ông có khả năng sẽ hỏi ý kiến ​​các đảng viên Cộng hòa ở phía bên kia lối đi hoặc tham vấn các đồng minh ở phía bên kia Đại Tây Dương hơn là tiến về phía trước với đa số đảng Dân chủ của mình tại cả hai viện Quốc hội.

Nói cách khác, Joe Biden có thế nói đi đôi với làm, nhưng liệu ông có thể thực hiện lời hứa hay không thì vẫn còn nghi ngờ. Tức là, hoặc ông có thể có đủ năng lượng để giải quyết các cuộc khủng hoảng cấp bách hoặc sẽ biến nó trở nên trầm trọng hơn, như các vấn đề mà những người tiền nhiệm của ông bỏ qua ở Trung Đông.

Vì vậy, trong khi chính quyền của ông đang gây áp lực để Ả Rập Xê-út chấm dứt cuộc chiến ở Yemen, thì cho đến nay nước Mỹ vẫn tránh giải quyết cuộc chiến kinh hoàng không kém ở Syria, nơi mà Nga khó thuyết phục rời đi hơn nhiều.

Chính quyền Biden đang ủng hộ việc quay trở lại thỏa thuận hạt nhân Iran, nhưng lại không thực hiện các bước cần thiết ngay lập tức để tái gia nhập thỏa thuận này.

Mỹ đang chỉ trích hồ sơ nhân quyền tồi tệ của chế độ Ai Cập, nhưng đã tiến hành bán vũ khí trị giá 200 triệu đô la cho quân đội Ai Cập.

Nước này đang ủng hộ việc khôi phục quan hệ với người Palestine, nhưng dường như không sẵn sàng gây áp lực buộc Israel phải đóng băng việc xây dựng khu định cư hoặc chấm dứt việc chiếm đóng.

Và chính quyền Biden đang dành thời gian ngọt ngào đầu tiên của nhiệm kỳ để quyết định xem phải làm gì về sự hiện diện quân sự của mình ở Iraq và Afghanistan, mà chưa nói đến việc tìm ra kết cục của nó ở đó.

Tóm lại, việc vạch ra một chương trình nghị sự đầy tham vọng cho công cuộc đổi mới đất nước và xây dựng một học thuyết an ninh quốc gia là một điều hoàn toàn khác và chúng cần phải được nhìn nhận trong mối quan hệ tổng thể.

Điều này đặc biệt đúng khi đối với một cường quốc thế giới như Mỹ, nơi mà việc chuyển hướng giống như lái một chiếc tàu chở dầu hơn là quay một xuồng tàu cao tốc.

Việc Joe Biden đảo ngược các chính sách của chính quyền Trump để đưa nước Mỹ tiếp tục đi theo con đường mà Obama vẽ ra 8 năm trước là điều dễ dàng và nhanh chóng, nhưng sau đó để đưa nước Mỹ vận hành dưới học thuyết mới cần phải từ tốn, kiên nhẫn tham khảo ý kiến, ưu tiên có chủ ý và hành động tương xứng.

Để nước Mỹ vĩ đại trở lại, Tổng thống Joe Biden có lẽ cần nhiều hơn 4 năm để bắt đầu quá trình xóa bỏ tư duy chủ nghĩa tự do vốn đã hình thành chính sách đối ngoại tân tự do (gắn với đảng Dân chủ) và tân bảo thủ của Hoa Kỳ (gắn với đảng Cộng hòa).