Thống đốc lo lãi suất tăng cao, nợ xấu nếu xóa bỏ công cụ hạn mức tín dụng

Nhiều hệ lụy xấu nếu xóa bỏ công cụ hạn mức tín dụng 

Đối với nhiệm vụ “Nghiên cứu hạn chế và tiến tới xóa bỏ việc điều hành phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho từng tổ chức tín dụng”, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Thị Hồng cho biết: Từ năm 2023 trở về trước, NHNN giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với từng tổ chức tín dụng (TCTD).

Trong đó nhóm chi nhánh ngân hàng nước ngoài được tăng trưởng tín dụng theo kiểm soát tín dụng tại thời điểm cuối năm và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quy mô tín dụng nhỏ được tăng trưởng tín dụng theo kế hoạch ngân hàng xây dựng để phù hợp với đặc thù hoạt động của nhóm ngân hàng này.  

thong doc lo lai suat tang cao no xau neu xoa bo cong cu han muc tin dung hinh 1

"Việc duy trì công cụ hạn mức tín dụng là nhằm đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng, qua đó góp phần tích cực trong kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định vĩ mô", Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng nhấn mạnh.

Trên cơ sở tiền đề đó, năm 2024, NHNN không giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với nhóm chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phù hợp với đặc thù, quy mô tín dụng của nhóm này và tiếp tục giao tăng trưởng tín dụng đối với các TCTD còn lại.

Đối với các TCTD còn lại, NHNN tiếp tục rà soát để từng bước dỡ bỏ hoàn toàn biện pháp này. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai nhiệm vụ này, NHNN nhận thấy còn một số khó khăn, vướng mắc như sau: 

Hiện nay, áp lực lạm phát vẫn còn hiện hữu, gây thách thức cho công tác điều hành chínhsách tiền tệ (CSTT) và tín dụng của NHNN khi vừa hỗ trợ phục hồi kinh tế vừa phải đảm bảo kiểm soát lạm phát. Chính vì vậy, việc duy trì công cụ hạn mức tín dụng là nhằm đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng, qua đó góp phần tích cực trong kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định vĩ mô.  

Trước năm 2011, do đặc thù nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng để cân đối cho các nhu cầu vốn nên tín dụng là kênh cung ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế, và có tốc độ tăng rất nhanh; tỷ lệ tín dụng/GDP giai đoạn này cũng tăng nhanh. Kéo theo hệ lụy là cuộc đua lãi suất huy động giữa các TCTD để có nguồn vốn cho vay, dẫn đến lãi suất cho vay tăng tương ứng và nợ xấu hệ thống ngân hàng tăng cao, nhiều TCTD có nguy cơ mất thanh khoản, gây bất ổn kinh tế vĩ mô, lạm phát tăng cao ở mức 2 con số. 

Các tổ chức quốc tế (IMF, WB và Moody’s) cảnh báo việc nới lỏng tín dụng của hệ thống ngân hàng giai đoạn này đã gia tăng nguy cơ rủi ro trọng yếu đối với ổn định kinh tế vĩ mô, đe dọa đến an toàn hệ thống, mất khả năng kiểm soát nợ xấu.

Ngoài ra, nền kinh tế Việt Nam lại có độ mở lớn, nên tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã gây thêm ảnh hưởng kéo dài và nghiêm trọng đến nền kinh tế, hoạt động của doanh nghiệp và đặc biệt là với hệ thống ngân hàng.

Trước bối cảnh đó, từ năm 2011 đến nay, kết hợp với việc kiểm tra, giám sát hệ thống TCTD qua các chỉ tiêu an toàn theo chuẩn mực quốc tế, NHNN tiến hành giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho từng TCTD căn cứ vào năng lực tài chính, quản trị, điều hành đặc thù của từng TCTD.  

Quá trình triển khai biện pháp điều hành tăng trưởng tín dụng từ năm 2011 đến nay cho thấy, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đã giảm từ mức trên 30%/năm (cá biệt có năm tăng 53,8%) xuống còn khoảng từ 12-14%/năm trong những năm gần đây. Từ đó góp phần ổn định thị trường tiền tệ, kiểm soát và duy trì lạm phát ổn định dưới 4%. Đồng thời, biện pháp này đã góp phần thúc đẩy các TCTD nâng cao năng lực quản trị, điều hành, cải thiện các chỉ số an toàn hoạt động, giảm mặt bằng lãi suất thị trường.

Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả tích cực đã đạt được thì hệ thống TCTD vẫn còn một số vấn đề như có sự phân hóa giữa các ngân hàng, tình trạng sở hữu chéo chưa được giải quyết triệt để, tỷ lệ nợ xấu có xu hướng tăng... ảnh hưởng đến quá trình tái cơ cấu hệ thống TCTD nói riêng và nền kinh tế nói chung.  

Dỡ bỏ cần thận trọng, có lộ trình

Theo đánh giá của Thống đốc NHNN, đến nay, đặc thù nền kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc chủ yếu vào kênh tín dụng ngân hàng để cung ứng cho các nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, tiêu dùng. Nhất là trong bối cảnh thị trường vốn phát triển chưa tương xứng với vai trò cung ứng vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế và hiện đang gặp nhiều khó khăn cần hỗ trợ, nổi lên nhiều vấn đề tồn tại, thì áp lực cân đối vốn cho nền kinh tế (đặc biệt vốn trung dài hạn) tiếp tục đè nặng lên vai hệ thống ngân hàng, tiềm ẩn rủi ro chênh lệch kỳ hạn, thanh khoản (khi TCTD chủ yếu huy động ngắn hạn nhưng cho vay trung dài hạn).  

Trong khi đó, thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế cho thấy, thị trường vốn, thị trường chứng khoán có vai trò chủ đạo cung cấp vốn trung dài hạn cho nền kinh tế, hệ thống ngân hàng chủ yếu cung cấp vốn ngắn hạn. Trong bối cảnh đó, áp lực cung ứng vốn cho quá trình phục hồi kinh tế là rất lớn, nhu cầu vốn của nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng nên tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện ở mức cao, tiềm ẩn rủi ro bất ổn vĩ mô như cảnh báo của một số tổ chức quốc tế. Đồng thời áp lực lạm phát dù đã được kiểm soát nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro, thách thức cho công tác điều hành của NHNN khi vừa hỗ trợ phục hồi kinh tế vừa phải đảm bảo kiểm soát lạm phát, ổn định an toàn hệ thống TCTD.  

Với điều kiện kinh tế đặc thù của Việt Nam như trình bày nêu trên, nếu TCTD tự tăng trưởng tín dụng mà không có biện pháp kiểm soát thông qua cả hệ thống các chỉ tiêu an toàn hoạt động và hạn mức tăng trưởng tín dụng, thì hệ thống TCTD có thể quay lại tình trạng tăng trưởng tín dụng nóng như giai đoạn trước năm 2011, không chỉ tạo nợ xấu gia tăng và đe dọa sự an toàn của hệ thống ngân hàng, mà còn rủi ro gây bất ổn vĩ mô chung cho nền kinh tế, rủi ro lạm phát.  

Do vậy, việc duy trì công cụ hạn mức tín dụng là nhằm đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng, qua đó góp phần tích cực trong kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định vĩ mô. Việc dỡ bỏ biện pháp này cần thận trọng, có lộ trình thích hợp, đảm bảo các điều kiện cần thiết và từng bước thực hiện phù hợp với điều kiện thị trường.

Hiện nay trong quá trình điều hành, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng nhấn mạnh, NHNN đã và đang thực hiện kết hợp triển khai đồng bộ việc áp dụng các chỉ tiêu an toàn theo chuẩn mực quốc tế trong hoạt động của các TCTD với việc phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho TCTD, qua đó ổn định thị trường tiền tệ, góp phần kiểm soát lạm phát, nâng cao năng lực quản trị, điều hành, cải thiện các chỉ số an toàn hoạt động của các TCTD.

Đồng thời, để tiến tới và kiểm soát tín dụng thông qua các chỉ số an toàn, NHNN đang chỉ đạo các TCTD thực hiện các giải pháp tái cơ cấu và xử lý nợ xấu, nâng cao chuẩn mực quản trị theo thông lệ quốc tế; tuy nhiên, điều này cũng cần song hành với việc triển khai hiệu quả quá trình tái cơ cấu nền kinh tế nhằm nâng cao vai trò và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của thị trường vốn đáp ứng được nhu cầu vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế, giảm sự phụ thuộc vào kênh vốn tín dụng ngân hàng. 

Năm 2023, trên cơ sở mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2023 khoảng 6,5% và lạm phát khoảng 4,5% được Quốc hội, Chính phủ đặt ra, NHNN định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2023 khoảng 14-15%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế.

Theo đó, NHNN điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho nền kinh tế nhằm góp phần kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế; chỉ đạo các TCTD hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng nền kinh tế theo chủ trương của Chính phủ; đảm bảo hoạt động tín dụng an toàn, hiệu quả; kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

An Hạ

Xem thêm

Từ nhà máy đến cộng đồng: Khi phát triển bền vững không dừng lại sau cánh cổng

Từ nhà máy đến cộng đồng: Khi phát triển bền vững không dừng lại sau cánh cổng

Không chỉ giảm phát thải hay tiết kiệm tài nguyên trong sản xuất, Vinamilk đang từng bước mở rộng phạm vi của phát triển bền vững ra toàn bộ hệ sinh thái, từ người nông dân, nhà cung cấp, cộng đồng doanh nghiệp đến người tiêu dùng. Hành trình ấy cho thấy, những tác động tích cực chỉ thực sự bền vững khi được lan tỏa và duy trì bởi nhiều bên cùng tham gia.

VNDIRECT (VND) lãi quý III giảm gần 65%, doanh thu môi giới lao dốc

VNDIRECT (VND) lãi quý III giảm gần 65%, doanh thu môi giới lao dốc

(CLO) Lợi nhuận sau thuế quý III/2026 của CTCP Chứng khoán VNDIRECT giảm gần 65% trong bối cảnh doanh thu môi giới lao dốc và các khoản lỗ từ tài sản tài chính gia tăng. Dù vậy, lũy kế 9 tháng đầu năm, doanh nghiệp vẫn ghi nhận lợi nhuận sau thuế hơn 1.757 tỷ đồng, tăng khoảng 5% so với cùng kỳ năm trước.

LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank – mã HOSE: LPB) vừa công bố Báo cáo tài chính quý III với nhiều điểm nhấn đáng chú ý. Tính đến ngày 30/9/2026, ngân hàng đạt 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế lũy kế, tổng tài sản đạt 694.183 tỷ đồng, tăng trưởng tương ứng gần 9% và 29% so với cùng kỳ.

Chứng khoán hôm nay 20/10/2026: VN-Index hồi phục nhẹ

Chứng khoán hôm nay 20/10/2026: VN-Index hồi phục nhẹ

(CLO) Chứng khoán hôm nay 20/10/2026 ghi nhận lực cầu bắt đáy ở vùng giá thấp giúp VN-Index hồi phục nhẹ trong phiên chiều, song đà tăng thiếu đồng thuận khi nhóm ngân hàng và VHM vẫn là lực cản chính.

BIDV giảm lãi suất cho vay tới 2,0%/năm

BIDV giảm lãi suất cho vay tới 2,0%/năm

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa triển khai chương trình tín dụng ưu đãi với lãi suất cho vay chỉ từ 6,0%/năm (giảm tới 2,0%/năm so với mức lãi suất thông thường) tùy theo kỳ hạn và lĩnh vực vay vốn.

BIDV khẳng định vị thế “Thương hiệu quốc gia”

BIDV khẳng định vị thế “Thương hiệu quốc gia”

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa được Hội đồng thương hiệu quốc gia vinh danh tại Lễ công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2026. Đây là lần thứ 9 BIDV được trao tặng danh hiệu uy tín này.

Liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp Chuyển đổi số xuất sắc: TPBank ghi dấu trên bản đồ ngân hàng số Việt Nam

Liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp Chuyển đổi số xuất sắc: TPBank ghi dấu trên bản đồ ngân hàng số Việt Nam

Với gần 99,5% giao dịch được thực hiện qua kênh số, AI ngày càng được ứng dụng sâu rộng và những kết quả rõ nét trong tối ưu vận hành, TPBank tiếp tục được vinh danh tại Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam 2026 (VDA 2026). Sự ghi nhận này cũng phản ánh hành trình chuyển đổi số không ngừng được nâng tầm của ngân hàng, với trải nghiệm khách hàng là trọng tâm và đổi mới sáng tạo là động lực phát triển.

Cỡ chữ bài viết: