chot.png

Đằng sau câu chuyện các nhà thầu “khát thợ” và giá nhân công tăng phi mã là những phép tính phức tạp về kiểm soát chi phí đầu tư công, kiềm chế lạm phát và quy luật cung – cầu của thị trường lao động. Không né tránh thực tế, đại diện các cơ quan quản lý chuyên môn và chuyên gia kinh tế đã thẳng thắn chỉ rõ từng nút thắt: từ phương pháp tính bình quân gia quyền, sự cạnh tranh gay gắt từ các đại dự án tư nhân, cho đến khoảng trống dữ liệu báo cáo từ chính doanh nghiệp – đã cho thấy những mâu thuẫn dai dẳng đang chờ lời hồi đáp.

d11.png

Rời những đại công trường ngổn ngang bùn đất, nơi từng giọt mồ hôi của người thợ đổ xuống sàn bê tông giữa trưa nắng gắt, chúng tôi mang theo câu chuyện đầy trăn trở về "cơn khát" nhân lực ngành xây dựng gõ cửa các cơ quan quản lý nhà nước.

Vì sao giá ngày công ngoài đời thực đã chạm ngưỡng năm, bảy trăm nghìn đồng mà trên những trang giấy mực đen dấu đỏ vẫn chỉ dừng ở mức đôi ba trăm nghìn? Điều gì đang níu giữ những tập đơn giá định mức khiến chúng luôn mang một "độ trễ" dài dằng dặc trước hơi thở bỏng rát của công trường?

Tại Sở Xây dựng TP Hải Phòng, trao đổi với phóng viên về việc nhiều nhà thầu phản ánh đơn giá nhân công định mức theo Công văn số 7546/SXD-KTQLĐTXD về việc chuyển đổi đơn giá nhân công xây dựng trên địa bàn thành phố Hải Phòng ngày 7/7/2026 của Sở Xây dựng thành phố thấp hơn nhiều so với thị trường, ông Lê Thanh Hùng - Trưởng phòng Kinh tế, Quản lý đầu tư xây dựng khẳng định: Việc ban hành đơn giá của thành phố hoàn toàn tuân thủ chặt chẽ các thông tư hướng dẫn của Bộ Xây dựng, đặc biệt là Thông tư 37 (Thông tư số 37/2026/TT-BXD của Bộ Xây dựng hướng dẫn phương pháp xác định định mức dự toán và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật).

Việc chuyển đổi áp dụng hệ số và công thức tính toán đã được quy chuẩn hóa, thống nhất cho tất cả các Sở Xây dựng trên toàn quốc để áp dụng sang hệ thống cấp bậc mới.

tlt4.png

Lý giải nguyên nhân sâu xa của khoảng vênh giữa giá trên giấy và ngoài công trường, ông Hùng cho rằng, vấn đề này mang tính quy luật thị trường và diễn ra trên phạm vi cả nước. Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế ở mức rất cao, công nghiệp và xây dựng đóng góp tỷ trọng lớn, hàng loạt dự án được triển khai đồng loạt khiến nguồn cung lao động không thể tăng đột biến để đáp ứng kịp thời, dẫn tới tình trạng khan hiếm thợ lành nghề.

“Thực tế này đã kéo dài nhiều năm nay, ngay cả ở vùng quê, thợ tự do học mót có tiền công nhật cũng đã chạm ngưỡng 600.000 - 700.000 đồng/ngày, thậm chí 800.000 đồng/ngày; trong khi thang bậc thợ định mức Nhà nước (bậc 3/7) tính toán chỉ đạt khoảng gần 300.000 đồng/ngày”, ông Hùng nói.

Bên cạnh đó, việc khan hiếm nhân công tại các dự án đầu tư công còn chịu tác động mạnh mẽ từ sự cạnh tranh của các nhà đầu tư tư nhân lớn. Theo ông Lê Thanh Hùng, khối doanh nghiệp tư nhân có tiềm lực tài chính vượt trội, nhằm mục tiêu đưa công trình vào vận hành sớm để thu hồi vốn nên họ sẵn sàng trả lương rất cao, bố trí xe đưa đón, chỗ ăn ở, phụ cấp, thưởng tiến độ để thu hút thợ.

Điển hình như các đại dự án, đại đô thị tại Vũ Yên (Hải Phòng), Hạ Long Xanh (Quảng Ninh) hay các dự án ở Hưng Yên, khu kinh tế Đình Vũ... đã hút một lượng lao động xây dựng rất lớn, tạo nên sự biến động mạnh về cung - cầu nhân lực.

1792082037209-1851524308586055998-1850110018088457251-08632cd865b7607d519f07f0c3624e69.jpg

Không chỉ thiếu lao động phổ thông, công nhân kỹ thuật lành nghề như thợ kích kéo cầu đường, thợ vận hành máy thi công hiện đại cũng rất khan hiếm. Nghề xây dựng chịu nhiều áp lực, nặng nhọc nhưng chính sách đãi ngộ trong thời gian dài chưa thực sự tương xứng, dẫn đến tình trạng chuyển dịch sang các ngành nghề khác. Ngay cả đội ngũ kỹ sư được đào tạo bài bản, tỷ lệ người kiên trì bám trụ lại với nghề sau nhiều năm công tác cũng hao hụt đi rất nhiều.

Về bản chất, đơn giá nhân công do Nhà nước công bố là công cụ phục vụ lập dự toán các dự án đầu tư công, chiếm khoảng 20% tổng dự toán xây dựng. Năng suất lao động trong định mức được tính toán theo phương pháp bình quân gia quyền của toàn xã hội.

Ông Hùng nhấn mạnh, việc kiểm soát đơn giá gắn liền với mục tiêu kiểm soát chi phí đầu tư công và kiềm chế lạm phát của nền kinh tế vĩ mô. Không chỉ Hải Phòng mà các tỉnh lân cận như Bắc Ninh, Hưng Yên, Quảng Ninh,... đều xác định đơn giá trên cùng mặt bằng hướng dẫn của Bộ Xây dựng. Nếu tùy tiện nâng vọt đơn giá lên theo thị trường tự do thì dự toán xây dựng công trình sẽ tăng phi mã, gây xáo trộn và bất ổn kinh tế vĩ mô ngay lập tức.

Theo ông Hùng, qua theo dõi thông tin phản ánh từ báo chí, dư luận và thị trường lao động, Sở Xây dựng đang khẩn trương triển khai công tác khảo sát, đánh giá lại mặt bằng giá nhân công trên địa bàn thành phố, dự kiến hoàn thành vào tháng 11 hoặc tháng 12. Việc này đòi hỏi thu thập và xử lý khối lượng dữ liệu rất lớn từ các chủ đầu tư, số liệu thực tế tại các gói thầu thi công trên địa bàn và đối chiếu với phương pháp của Bộ Xây dựng.

Tuy nhiên, căn cứ theo hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, mức đơn giá mới dự kiến sẽ không biến động quá lớn so với các văn bản đã công bố.

Muốn tháo gỡ căn cơ, cần có đề xuất sửa đổi cơ chế, chính sách từ cấp Bộ. Hiện nay hệ thống quản lý chi phí của chúng ta vẫn dựa chủ yếu vào định mức hao phí, phân nhóm, phân vùng và phân cấp bậc thợ, nên các cơ quan chuyên môn ở địa phương khó có thể áp sát hoàn toàn với diễn biến của thị trường tự do.

Ông Lê Thanh Hùng - Trưởng phòng Kinh tế, Quản lý đầu tư xây dựng TP Hải Phòng

p3cn.png

Có mặt tại tỉnh Hưng Yên - địa bàn đang chứng kiến sự bùng nổ của các khu, cụm công nghiệp, ông Đặng Xuân Bình, Chánh Văn phòng Sở Xây dựng tỉnh Hưng Yên thẳng thắn nhìn nhận về tính pháp lý trong các hợp đồng xây lắp.

Theo ông Bình, đối với các gói thầu áp dụng hình thức hợp đồng trọn gói hoặc đơn giá cố định, nguyên tắc pháp lý bất di bất dịch là phải căn cứ vào các điều khoản hợp đồng đã ký kết giữa chủ đầu tư và nhà thầu; cơ quan quản lý nhà nước không thể can thiệp hành chính để điều chỉnh giá hợp đồng. Đơn giá nhân công, vật liệu được Sở phối hợp cùng Sở Tài chính và các địa phương tổ chức khảo sát, cập nhật công bố định kỳ trên website dựa trên hồ sơ, hóa đơn chứng từ hợp pháp chứ không thể công bố theo thông tin truyền miệng.

Phân tích sâu hơn về quy trình chuyên môn ban hành Công văn số 3385/SXD-KT&VLXD ngày 1/7/2026 của Sở Xây dựng tỉnh Hưng Yên, ông Khúc Hữu Hằng - Trưởng phòng Kinh tế và Vật liệu xây dựng - cho biết, đơn giá 4 nhóm công nhân được chuyển đổi theo Thông tư số 37 của Bộ Xây dựng; đồng thời trên cơ sở lựa chọn các công tác xây dựng đại diện (như làm đất, cốt thép, xây trát...) và phù hợp với hệ thống lương cơ sở của Nhà nước dùng để đóng bảo hiểm xã hội.

Còn việc thực tế ngoài thị trường nhà thầu phải trả từ 450.000 đến 500.000 đồng/ngày là quyền tự nguyện thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, phụ thuộc vào tính chất, thời gian và cường độ làm việc (như tăng ca, khoán khối lượng).

a442.png

Theo ông Hằng, để giải quyết bài toán lao động cho ngành xây dựng trong bối cảnh thiếu hụt hiện nay phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, từ khâu phân luồng, định hướng nghề nghiệp sau tốt nghiệp Trung học phổ thông. Nếu không định hướng tốt sẽ dẫn đến nơi thừa, nơi thiếu nguồn cung. Nơi thiếu cung thì muốn thuê người bắt buộc phải trả giá cao theo thỏa thuận.

Về phía doanh nghiệp, cần chủ động nhìn nhận lại thị trường để tái cấu trúc tổ chức sản xuất, tăng cường đưa máy móc, cơ giới hóa vào thay thế sức người để giảm phụ thuộc vào lao động thủ công.

Ông Khúc Hữu Hằng cũng cho biết, qua ghi nhận phản ánh những bất cập, Sở Xây dựng đã tiếp nhận, tham mưu cho UBND tỉnh và tỉnh cũng đã có ý kiến lên Bộ Xây dựng và Chính phủ. Đối với các hợp đồng đã ký trọn gói gặp biến động về nhân công và vật tư, Bộ Xây dựng và Sở Xây dựng đã có văn bản hướng dẫn rõ thẩm quyền, trách nhiệm của chủ đầu tư và nhà thầu trong việc xử lý các vướng mắc theo quy định.

Trước thực tế giá nhân công của thị trường lao động trong lĩnh vực xây dựng có nhiều biến động, vừa qua, Sở Xây dựng tỉnh Hưng Yên đã ban hành Công văn số 4693/SXD-KT&VLXD đề nghị các ban quản lý dự án, chủ đầu tư và nhà thầu cung cấp thông tin, hóa đơn chứng từ thực tế chi trả để khảo sát, cập nhật bảng giá nhân công cho sát thực tiễn.

Thế nhưng, đến tháng 9/2026, Sở vẫn phải phát văn bản đôn đốc lần hai vì nhiều đơn vị báo cáo rất chậm, không gửi, hoặc kê khai không đúng biểu mẫu quy định. “Cơ quan quản lý nhà nước hoàn toàn khách quan, song nếu không có dữ liệu pháp lý đầu vào từ doanh nghiệp thì không thể tự ý ban hành mức giá điều chỉnh”, ông Hằng nói.

p42.png

Từ góc độ cơ quan theo dõi thị trường lao động Thủ đô, ông Vũ Quang Thành - Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội (thuộc Sở Nội vụ Hà Nội) - cung cấp những con số biết nói.

Trong tháng 7/2026, nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo và xây dựng chiếm tới 35,9% tổng nhu cầu tuyển dụng của thành phố, tăng 10,1 điểm phần trăm so với tháng trước đó. Bước sang tháng 8/2026, nhu cầu tuyển dụng toàn Hà Nội duy trì khoảng 38.000 vị trí việc làm, với áp lực tuyển dụng ngành xây dựng ở mức rất cao khi các dự án hạ tầng lớn được đẩy nhanh tiến độ.

Tuy nhiên, ông Thành nhấn mạnh tỷ lệ kết nối thành công các vị trí trực tiếp ngoài công trường như thợ nề, thợ cốp pha, cốt thép, lái máy luôn rất thấp do độ lệch cung - cầu quá lớn. Đặc thù làm việc ngoài trời nặng nhọc, độc hại, rủi ro an toàn cao và tính chất bấp bênh theo dự án khiến thế hệ trẻ có xu hướng lựa chọn công việc trong nhà máy, xí nghiệp hoặc dịch vụ công nghệ.

1792082037231-1851524308586055998-1850110018088457251-887073ecd0888a9919cf44c36921caa1.jpg

Tại các nhà máy, người lao động làm việc trong môi trường máy lạnh ổn định, làm theo ca kíp, thu nhập dự báo trước từ 9 đến 12 triệu đồng/tháng, lại có hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội và phúc lợi an sinh rõ ràng.

Đặc biệt, theo ông Thành, bài toán cốt lõi hiện nay là làm thế nào để nghề xây dựng trở thành việc làm đủ sức hấp dẫn đối với lao động trẻ. Câu trả lời nằm ở ba yếu tố trụ cột: thu nhập cạnh tranh - an sinh đầy đủ - môi trường làm việc an toàn, chuyên nghiệp.

Đối với sự chênh lệch giữa đơn giá định mức của Sở Xây dựng Hà Nội (Quyết định 14502/SXD-KTXD áp dụng từ 1/7/2026 quy định công nhân xây dựng từ 345.000 - 454.000 đồng/ngày, lái máy từ 393.000 - 457.000 đồng/ngày) so với mức đòi hỏi thực tế 500.000 - 600.000 đồng/ngày của thợ, ông Thành cho rằng người lao động không chỉ nhìn vào con số tiền công thuần túy.

Họ còn tính đến chi phí đi lại, ăn ở tạm bợ và rủi ro gián đoạn công việc sau khi công trình kết thúc. Do đó, các nhà thầu cần chuyển từ tư duy “tuyển được thợ với mức giá nào” sang “xây dựng một gói việc làm đủ sức cạnh tranh”.

p5.png

Đánh giá toàn cảnh cuộc khủng hoảng dưới lăng kính kinh tế học và quản trị doanh nghiệp, GS.TS Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP Hà Nội, Viện trưởng Viện Kinh tế và Phát triển Doanh nghiệp - nhận định các công trường xây dựng đang đối mặt với tình trạng “thiếu hụt kép”: thiếu lao động trực tiếp có kỹ năng và thiếu đội ngũ kỹ thuật đủ năng lực tổ chức thi công tại hiện trường.

GS.TS Mạc Quốc Anh phân tích, khi nhiều công trình hạ tầng và bất động sản cùng triển khai đồng loạt, nhu cầu nhân lực tăng đột biến trong ngắn hạn nhưng việc đào tạo ra một người thợ lành nghề hay một kỹ sư hiện trường bản lĩnh lại cần thời gian tích lũy dài hạn. Việc tăng lương đơn thuần không thể lập tức tạo thêm nguồn cung lao động mới cho thị trường.

Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), thách thức lớn nhất là sự mất cân đối dòng tiền: nhà thầu phải trả lương công nhân thường xuyên hàng tuần, hàng tháng bằng tiền mặt, trong khi nguồn tiền thanh toán từ ngân sách lại phụ thuộc vào quy trình nghiệm thu, thủ tục thanh quyết toán kéo dài.

mqa2.png

Theo ông Mạc Quốc Anh, hai sự thiếu hụt trên khuếch đại lẫn nhau: thiếu kỹ sư điều phối giỏi khiến công nhân phải chờ việc, phối hợp sai lệch dẫn đến phát sinh khối lượng làm lại; ngược lại, thiếu thợ lành nghề lại khiến kỹ sư chịu áp lực tiến độ nặng nề hơn.

Bàn về khoảng cách giữa đơn giá định mức địa phương công bố (167.000 - 454.000 đồng/ngày) và mức nhà thầu thực trả (500.000 - 900.000 đồng/ngày), GS.TS Mạc Quốc Anh cho rằng không thể lấy mức chi trả đột biến trong giai đoạn cao điểm hay điều kiện làm việc khắc nghiệt của một vài đại dự án tư nhân để đại diện cho toàn bộ mặt bằng chung cả năm.

Đơn giá công bố là công cụ quản lý chi phí của Nhà nước chứ không phải mức trần tiền lương. Thông tư 36/2026/TT-BXD đã cho phép cơ quan chức năng công bố giá sớm hơn khi có biến động bất thường.

Về mặt lý thuyết, “độ trễ” xuất hiện ở ba khâu: dữ liệu khảo sát phản ánh thời điểm đã qua; con số bình quân gia quyền vô tình che khuất sự thiếu hụt của từng nhóm nghề kỹ thuật chuyên sâu; và quy trình cập nhật dự toán, hợp đồng luôn diễn ra chậm hơn rất nhiều so với giao dịch tuyển dụng thực tế ngoài công trường.

Tuy nhiên, việc cập nhật dự toán không đồng nghĩa với việc các hợp đồng trọn gói đã ký sẽ tự động được bù giá. Do đó, các doanh nghiệp xây lắp cần nhìn nhận đây là bài toán về năng suất, tổ chức công việc và văn hóa giữ người, chứ không chỉ đơn thuần là việc tuyển thêm người bằng mọi giá.

"Cơn khát" nhân công ngành xây dựng đang đặt toàn ngành trước bài toán luẩn quẩn: nhà thầu chịu lỗ, chủ đầu tư vướng cơ chế, cơ quan quản lý chậm nhịp định mức, còn lớp thợ trẻ tiếp tục rời bỏ giàn giáo vào nhà máy.

Hậu quả không dừng lại ở bài toán tài chính của doanh nghiệp, mà trực tiếp đe dọa tiến độ các dự án đầu tư công. Do đó, cần cơ chế đột phá nào để bịt kín khoảng vênh đơn giá, tháo gỡ rào cản hợp đồng trọn gói và giữ chân người thợ gắn bó lâu dài.

Còn tiếp…

ket.png

Xem thêm

Phú Thọ: Xã Minh Đài trang trọng đón hài cốt hai liệt sĩ hy sinh tại chiến trường Tây Nam sau gần 50 năm

Phú Thọ: Xã Minh Đài trang trọng đón hài cốt hai liệt sĩ hy sinh tại chiến trường Tây Nam sau gần 50 năm

(CLO) Trưa ngày 16/10, xã Minh Đài (tỉnh Phú Thọ) đã tổ chức lễ đón nhận hài cốt 2 liệt sĩ Hà Văn Đối và Hà Quang Trưng từ tỉnh Tây Ninh trở về quê nhà. Sự kiện mang ý nghĩa sâu sắc, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của thế hệ hôm nay đối với những người đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Phấn đấu thu hút 1.000 nhân tài quốc gia phục vụ các lĩnh vực mũi nhọn đến năm 2030

Phấn đấu thu hút 1.000 nhân tài quốc gia phục vụ các lĩnh vực mũi nhọn đến năm 2030

(CLO) Quán triệt Kết luận 105-KL/TW, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ "quản lý biên chế" sang "quản trị nhân tài". Với định vị nhân tài là "nguồn lực chiến lược đặc biệt", Việt Nam đặt mục tiêu thu hút 1.000 nhân tài quốc gia vào năm 2030 cho các lĩnh vực mũi nhọn.

 Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Chủ trương đúng phải biến thành năng lực phát triển thực chất

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Chủ trương đúng phải biến thành năng lực phát triển thực chất

(CLO) Tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo và công tác cán bộ. Người đứng đầu Đảng, Nhà nước yêu cầu phải biến mỗi chủ trương đúng đắn thành năng lực phát triển thực chất, đo lường bằng hiệu quả của hệ thống chính trị, sức cạnh tranh kinh tế và chất lượng sống của nhân dân.

Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 4

Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 4

(CLO) Báo Nhà báo và Công luận trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc: Không đánh giá tổ chức đảng, cán bộ chỉ qua báo cáo, xếp loại

Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc: Không đánh giá tổ chức đảng, cán bộ chỉ qua báo cáo, xếp loại

(CLO) Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc nhấn mạnh ngay trong năm 2027, cần tạo chuyển biến rõ nét về chất lượng tổ chức đảng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tham mưu, giúp việc và chất lượng đội ngũ cán bộ. Những chuyển biến đó phải được kiểm chứng qua thực tiễn, không chỉ qua báo cáo, đánh giá, xếp loại.

Để chính sách không 'đi trong sương mù': Lời giải từ bài toán dữ liệu

Để chính sách không 'đi trong sương mù': Lời giải từ bài toán dữ liệu

(CLO) Chuyển đổi số vùng cao không đơn thuần là cuộc đua về hạ tầng hay nền tảng công nghệ, mà cốt lõi là xây dựng dữ liệu chuẩn xác, liên thông. Thay vì quản lý "trong sương mù", hệ thống dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống" sẽ giúp địa phương thấu hiểu chính mình, đưa mọi quyết sách bám sát thực tiễn.

Kỳ vọng xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ

Kỳ vọng xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ

(NB&CL) Bộ VHTTDL vừa ra mắt “Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam” và công bố 17 sáng kiến phát triển ngành năm 2026. Mạng lưới được kỳ vọng trở thành đầu mối kết nối các nguồn lực, chia sẻ cơ hội hợp tác và thúc đẩy những sáng kiến mới, góp phần đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển kinh tế. Hiệu quả của mô hình sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa các định hướng thành chương trình hợp tác cụ thể, đưa ý tưởng thành sản phẩm có giá trị và tạo chỗ đứng trên thị trường trong nước, quốc tế.

Kết luận của Trung ương về Đề cương tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng

Kết luận của Trung ương về Đề cương tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng

(CLO) Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Kết luận Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Đề cương tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng (Kết luận số 103-KL/TW, ngày 13/10/2026). Toàn văn Kết luận số 103-KL/TW như sau:

Thủ tướng yêu cầu 14 địa phương kiểm soát giá cả, không để CPI tăng trong những tháng cuối năm

Thủ tướng yêu cầu 14 địa phương kiểm soát giá cả, không để CPI tăng trong những tháng cuối năm

(CLO) Thủ tướng Chính phủ yêu cầu 14 địa phương có CPI bình quân 9 tháng năm 2026 tăng cao hơn mức tăng CPI bình quân chung của cả nước cần đưa giải pháp kiểm soát CPI, không tăng trong những tháng còn lại của năm 2026, đóng góp vào mục tiêu kiểm soát lạm phát chung của cả nước.

Cỡ chữ bài viết: