Sự thiếu hụt nhân công trên các công trường xây dựng hiện nay không đơn thuần là câu chuyện biến động thời vụ hay trượt giá ngày công. Đằng sau những đại công trường vắng bóng thợ là sự dịch chuyển của lao động trẻ nông thôn vào các nhà máy, sự phân hóa giữa công trình công và tư, cùng hàng loạt áp lực từ mặt bằng thi công đến giá vật liệu đầu vào. Đứng trước những điều khoản hợp đồng có phần cứng nhắc và định mức chậm cập nhật, các nhà thầu hạ tầng đang phải tự gồng mình gánh lỗ trong thế tiến thoái lưỡng nan.
Nhiều vùng nông thôn vốn là nguồn cung thợ nề, thợ sắt cho các dự án xây dựng nhưng ở các địa phương như: Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Phú Thọ..., thị trường lao động đã thay đổi rõ rệt khi các khu công nghiệp, cụm công nghiệp phát triển mạnh.
Ông Lê Tuấn Đích - Chỉ huy trưởng Công trình Công ty Sinh thái Nam Hải (TP Nội) - cho biết: “Tình trạng thiếu nhân công xây dựng đã phát sinh, manh nha từ một, hai năm nay. Lực lượng lao động trong lĩnh vực xây dựng hiện nay phần lớn là những người trung tuổi và nhiều tuổi. Khi lực lượng này ngày càng lớn tuổi thì lực lượng kế cận gần như không có. Đơn giản như nghề thợ xây ở các làng quê hiện nay, lớp lớn tuổi thì còn ráng theo nghề, còn lớp trẻ gần như đã chuyển hết sang làm trong các nhà máy, xí nghiệp”.
Cũng theo ông Đích, so với công trường nắng nóng, làm việc trên cao và tiềm ẩn rủi ro, môi trường nhà máy đem lại công việc ổn định, thu nhập đều, cùng các chế độ bảo hiểm, bữa ăn ca, xe đưa đón. Đây là yếu tố khiến việc thu hút lao động trẻ vào ngành xây dựng ngày càng khó.
Ông Đinh Văn K. - Giám đốc Công ty CP Xây dựng A.H - tại Phú Thọ chia sẻ: “Hiện nay các công ty xây dựng địa phương gặp muôn vàn khó khăn tìm lao động chân tay. Người dân có quá nhiều sự lựa chọn như làm việc ở các công ty trong khu công nghiệp, không phải làm việc nặng nhọc, nắng mưa hay nguy hiểm mà thu nhập lại ổn định. Để thuyết phục một người thợ ra công trường dầm mưa dãi nắng lúc này là vô cùng chật vật, dù chúng tôi đã nỗ lực tăng đơn giá nhân công lên rất nhiều”.
Tại xã Hoàng Hoa Thám (tỉnh Hưng Yên), ông Lâm Đức Cảnh - Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng - cho biết, từ cuối năm 2025, khi cụm công nghiệp Quán Đỏ cùng nhiều dự án do nhà đầu tư tư nhân xây dựng được khởi công đã tuyển dụng hàng nghìn công nhân khiến các công trình xây dựng dân sinh, hạ tầng quanh xã lập tức bị “mất” thợ.
Nhiều công trình công, từ làm sân vận động đến cải tạo công trình trụ sở UBND xã, nhà thầu phải để trống công trường trong thời gian dài vì không tìm được tổ thợ.
Khi nguồn thợ tại chỗ ngày càng khan hiếm, nhiều nhà thầu phải tìm đến lao động từ các vùng cao, miền núi phía Bắc, có nơi chiếm khoảng 70% quân số công trường. Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tình thế và kéo theo nhiều chi phí phát sinh.
Chỉ huy trưởng Khổng Minh Toán của Công ty CP Tập đoàn 202, đơn vị thi công xây dựng Đền thờ liệt sĩ và công viên văn hóa tỉnh Hải Dương - nay thuộc TP Hải Phòng phân tích: “Lao động miền núi xuống chủ yếu làm việc phổ thông, xúc đất, dọn dẹp, bốc vác vật liệu chứ không thể đảm đương việc ghép cốp pha phức tạp, uốn thép dầm hay hoàn thiện mỹ thuật. Tay nghề của họ rất hạn chế. Mà tay nghề hạn chế dẫn đến năng suất kém và sản phẩm không được sắc nét như mong muốn. Những công việc đòi hỏi kỹ thuật cao, độ hoàn thiện tinh xảo thì bắt buộc vẫn phải dựa vào nhân công tại địa phương, công nhân có trình độ”.
Đồng thời, nhà thầu còn phải lo lán trại, chỗ ở, điện nước, bếp ăn và phương tiện đi lại. Đặc biệt, nhóm lao động này có tính thời vụ cao, có thể nghỉ dài ngày vào mùa nương rẫy, lễ Tết hoặc khi gia đình có việc.
Trong khi đó, ngay cả thợ địa phương cũng có xu hướng chỉ nhận công trình gần nhà để có thể đi về trong ngày.
“Thợ xây quanh vùng hiện nay thường không muốn đi công trình cách nhà vài chục cây số và ngủ lại lán trại. Lao động cũng thường đi theo nhóm hoặc tổ, nên khi một người có việc gia đình, cả nhóm có thể nghỉ theo, khiến việc điều phối thi công càng khó khăn”, ông Toán nói.
Khó khăn nhân lực không chỉ nằm ở lao động phổ thông mà còn lan sang đội ngũ kỹ thuật, chỉ huy trưởng công trình.
Ông Nguyễn Duy T. - Giám đốc Công ty CP Xây dựng 9 (Ninh Bình) - cho biết: “Việc tìm kiếm và thuyết phục các nhân sự có trình độ về làm chỉ huy trưởng hay kỹ thuật cho các công ty xây dựng địa phương hiện nay rất khó khăn. Kỹ sư xây dựng được đào tạo bài bản, có năng lực hầu hết đều muốn đầu quân cho các tập đoàn lớn, các doanh nghiệp nước ngoài ở các thành phố trung tâm. Tại đó, họ được hưởng một mức lương cao hơn hẳn, môi trường làm việc hiện đại và lộ trình thăng tiến rõ ràng”.
Theo ông T., với các dự án đầu tư công tại địa phương, nhà thầu phải tuân thủ các hệ số, định mức chi phí theo quy định, khiến biên độ lợi nhuận mỏng và khó đưa ra mức đãi ngộ đủ sức cạnh tranh để giữ kỹ sư giỏi.
Tình trạng tương tự cũng diễn ra với lực lượng lái máy, thợ vận hành cơ giới. Theo các doanh nghiệp, dù đơn giá nhân công, lái máy được cơ quan quản lý công bố, mức trả thực tế trên thị trường có thể cao hơn đáng kể khi cộng thêm làm thêm giờ, phụ cấp. Khoảng cách này khiến doanh nghiệp xây lắp gặp khó trong cân đối quỹ lương.
Thiếu nhân công càng trở nên nghiêm trọng khi công trường gặp vướng mắc về mặt bằng và điều kiện thi công.
Tại công trường của Công ty CP Xây dựng sinh thái Nam Hải ở ngoại thành Hà Nội, ông Lê Tuấn Đích cho biết nhiều tuyến đường, ngõ xóm chỉ rộng khoảng 1m, máy xúc, máy cẩu không thể vào. Những công việc vốn có thể thực hiện bằng máy trong vài giờ phải chuyển sang làm thủ công, khiến nhu cầu nhân công tăng lên nhiều lần.
Có trường hợp nhà thầu phải chia nhỏ từng đoạn, chờ ghép, đặt cấu kiện rồi mới san lấp. Hạng mục dự kiến hoàn thành trong khoảng hai tháng có thể kéo dài tới bốn, năm tháng do mặt bằng chật hẹp và địa hình phức tạp.
Một trong những vấn đề được các doanh nghiệp xây dựng đặt ra là độ trễ giữa định mức, đơn giá được công bố và giá nhân công thực tế trên thị trường.
Ông Lâm Đức Cảnh - Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng xã Hoàng Hoa Thám (Hưng Yên) - cho rằng, về nguyên tắc, khi tham gia đấu thầu và ký hợp đồng, nhà thầu đã cam kết đầy đủ năng lực tài chính, máy móc và nhân sự để bảo đảm tiến độ. Việc điều phối, thuê và trả lương cho người lao động là trách nhiệm của nhà thầu.
Trong khi đó, ông Nguyễn Hữu Trí (Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng TP Hải Phòng) nhìn nhận vấn đề từ cả yếu tố chủ quan và khách quan: “Đúng là có cả yếu tố chủ quan lẫn khách quan. Về khách quan, hàng loạt đại dự án đồng loạt khởi công tạo ra sự đột biến về cầu lao động. Về chủ quan, việc điều chỉnh chỉ số giá, đơn giá định mức của Nhà nước luôn có độ trễ nhất định so với thị trường tự do”.
Theo ông Trí, Hải Phòng đã ban hành Công văn số 7546/SXD-KTQLĐTXD về việc chuyển đổi đơn giá nhân công xây dựng trên địa bàn thành phố Hải Phòng ngày 7/7/2026 của Sở Xây dựng thành phố công bố đơn giá nhân công xây dựng và tiếp tục rà soát, điều chỉnh, song mức ban hành phổ biến vẫn chưa thể bắt kịp tốc độ tăng ngoài thực tế, nơi thợ xây có thể yêu cầu 500.000-600.000 đồng/ngày.
Với các hợp đồng trọn gói hoặc đơn giá cố định, khi không có cơ chế điều chỉnh phù hợp với biến động nhân công, nhà thầu đứng trước bài toán khó: tăng chi phí để giữ người, đẩy nhanh tiến độ thì khoản lỗ tăng; còn giãn hoặc dừng thi công lại có nguy cơ chậm tiến độ, phát sinh chế tài hợp đồng.
Sự lệch pha giữa định mức, đơn giá và thực tế thị trường lao động đang trở thành một trong những áp lực lớn đối với doanh nghiệp xây lắp. Đằng sau những công trường thiếu thợ không chỉ là câu chuyện tìm người, mà còn là bài toán về cơ cấu lao động, chi phí, mặt bằng, tiến độ và cơ chế hợp đồng. Nếu những nút thắt này không được tháo gỡ, áp lực nhân công có thể tiếp tục tác động đến khả năng triển khai và hoàn thành các dự án xây dựng, đặc biệt trong bối cảnh khối lượng đầu tư công đang ở mức cao.