Ngày 6/11, Học viện Dân tộc tổ chức hội thảo khoa học “Nhiệm vụ, giải pháp, nguồn lực và cơ chế thực hiện phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công tác dân tộc, tôn giáo giai đoạn 2026 - 2035”. Hội thảo có sự tham gia của các nhà khoa học, chuyên gia, nhà nghiên cứu và nguyên lãnh đạo trong lĩnh vực công tác dân tộc, tôn giáo.
Các ý kiến tại hội thảo góp phần hoàn thiện Đề án “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công tác dân tộc, tôn giáo” giai đoạn 2026 - 2035, đang được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng.
Đây là bước cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, gắn yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ với một lĩnh vực có nhiều đặc thù, liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân và việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Xuất phát từ đặc thù, giải quyết những điểm nghẽn
Góp ý cho dự thảo Đề án, TS Hoàng Xuân Lương, nguyên Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, đánh giá việc tiếp thu ý kiến của các bộ, ngành, địa phương và nhà khoa học đã giúp nội dung dự thảo từng bước hoàn thiện. Nhiều vấn đề cần thiết đã được bổ sung, nhất là việc nhận diện hạn chế và đề xuất giải pháp phù hợp với đặc thù công tác dân tộc, tôn giáo.
Theo TS Hoàng Xuân Lương, lĩnh vực này gắn với điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán, văn hóa và đời sống tín ngưỡng của từng cộng đồng. Vì vậy, việc xác định rõ những đặc điểm riêng là cơ sở để lựa chọn giải pháp khoa học, công nghệ phù hợp, bảo đảm khả năng triển khai trong thực tế.
Ảnh: Diệu Linh
Yêu cầu đó càng trở nên cấp thiết khi đô thị hóa, di cư, hội nhập quốc tế và sự phát triển của môi trường mạng đang tác động đến quan hệ cộng đồng, đời sống văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo. Để theo kịp những biến đổi này, cơ quan quản lý cần có thông tin cập nhật, dữ liệu tin cậy và công cụ phân tích, dự báo, qua đó nâng cao chất lượng tham mưu và đánh giá tác động chính sách.
Tuy nhiên, năng lực nghiên cứu liên ngành, hệ thống dữ liệu và khả năng chuyển giao kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực công tác dân tộc, tôn giáo vẫn còn hạn chế. Nguồn lực đầu tư còn phân tán; hoạt động nghiên cứu chưa kết nối đồng bộ với phát triển hạ tầng, đào tạo nhân lực và ứng dụng tại cơ sở. Đội ngũ có khả năng kết hợp kiến thức chuyên sâu về dân tộc, tôn giáo với khoa học dữ liệu và công nghệ số cũng còn thiếu.
Tháo gỡ những điểm nghẽn này đòi hỏi đổi mới cả cách lựa chọn nhiệm vụ lẫn phương thức tổ chức nghiên cứu. Mỗi nhiệm vụ cần bắt đầu từ một vấn đề cụ thể trong quản lý hoặc đời sống cộng đồng, xác định rõ sản phẩm đầu ra và đơn vị tiếp nhận. Cách làm này sẽ giúp tăng tính liên kết giữa nghiên cứu, xây dựng chính sách và tổ chức thực hiện tại địa phương.
Lấy hiệu quả phục vụ đồng bào làm thước đo
Từ yêu cầu thực tiễn, việc triển khai Đề án giai đoạn 2026 - 2035 cần gắn nghiên cứu với ứng dụng và chuyển giao. Giá trị của kết quả khoa học phải được thể hiện qua cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, công cụ hỗ trợ ra quyết định, mô hình sản xuất hoặc giải pháp giúp người dân tiếp cận tốt hơn các dịch vụ thiết yếu.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, ứng dụng công nghệ có thể hỗ trợ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, cải thiện khâu bảo quản, chế biến và kết nối thị trường. Các nền tảng số trong giáo dục, y tế và dịch vụ công cũng mở thêm cơ hội tiếp cận cho người dân ở vùng sâu, vùng xa.
Cùng với hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, công nghệ số còn góp phần lưu giữ và phát huy ngôn ngữ, di sản văn hóa, tri thức bản địa. Tuy nhiên, hiệu quả ứng dụng phụ thuộc vào mức độ phù hợp với hạ tầng, điều kiện sinh hoạt và khả năng sử dụng của người dân. Vì vậy, đồng bào cần được tham gia từ khâu xác định nhu cầu, thử nghiệm đến tiếp nhận và đánh giá kết quả. Sự tham gia này giúp các mô hình bám sát thực tế, đồng thời tạo điều kiện duy trì sau khi chuyển giao.
Trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ cần phục vụ việc xây dựng, thực thi chính sách, tiếp nhận phản hồi và nâng cao hiệu quả truyền thông. Quá trình đó phải gắn với bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; đồng thời phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức và nguồn lực xã hội tích cực của các tôn giáo.
Để các định hướng này trở thành hiện thực, phát triển nhân lực là nhiệm vụ cần được quan tâm ngay từ đầu. Bên cạnh bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, cần chú trọng nhân lực tại chỗ, nhất là trí thức trẻ người dân tộc thiểu số; tăng cường kết nối giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp công nghệ và địa phương. Người có uy tín, chức sắc, chức việc, nghệ nhân và những người nắm giữ tri thức bản địa cũng cần được phát huy vai trò trong nghiên cứu và triển khai các mô hình.
Đi đôi với nhân lực là cơ chế đầu tư, đặt hàng và đánh giá kết quả nghiên cứu. Các nhiệm vụ cần được lựa chọn theo thứ tự ưu tiên, có sản phẩm rõ ràng, có đơn vị sử dụng và nguồn lực duy trì. Đồng thời, cần tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu để hạn chế đầu tư trùng lặp và tạo điều kiện nhân rộng những giải pháp hiệu quả.
Đối với công tác dân tộc, tôn giáo, hiệu quả thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW cần được đánh giá qua mức độ phù hợp của chính sách, hiệu quả quản lý ở cơ sở và những cải thiện trong đời sống đồng bào. Đây cũng là căn cứ để xác định nhiệm vụ nghiên cứu ưu tiên, bảo đảm Đề án giai đoạn 2026 - 2035 đáp ứng yêu cầu thực tiễn.