Khơi thông động lực phát triển ngành khí Việt Nam: Giải mã các nút thắt chính sách, vốn và đầu ra

(CLO) Tại tọa đàm trực tuyến “Khơi thông động lực phát triển ngành khí Việt Nam” do Báo Nhà báo và Công luận tổ chức, các chuyên gia nhận định nguồn khí trong nước suy giảm, nhiều dự án điện khí thiên nhiên và khí thiên nhiên hoá lỏng (LNG) chậm tiến độ, trong khi nhu cầu năng lượng tiếp tục gia tăng. Để tạo động lực phát triển ngành khí, cần tháo gỡ đồng bộ các vướng mắc về cơ chế chính sách, huy động vốn và bảo đảm đầu ra cho dự án.

1122.jpg
Toàn cảnh toạ đàm.

Ngành khí trước những chuyển biến của thị trường

Ngành khí giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, cung cấp nhiên liệu cho sản xuất điện, công nghiệp, hóa chất và phân bón. Trong quá trình hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, khí thiên nhiên và khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) được kỳ vọng tiếp tục là nguồn năng lượng chuyển tiếp, hỗ trợ duy trì nguồn cung ổn định và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế.

Tại tọa đàm, TS. Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, nhận định thị trường khí Việt Nam đang có sự chuyển biến rõ rệt: từ mô hình chủ yếu dựa vào nguồn khí nội địa sang kết hợp LNG nhập khẩu. Điều này mở ra cơ hội bổ sung nguồn cung, nhưng cũng khiến ngành khí chịu tác động nhiều hơn từ giá cả, nguồn cung và biến động của thị trường quốc tế.

2233.jpg
TS. Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam chia sẻ tại buổi toạ đàm.

Trong khi các mỏ khí đang khai thác suy giảm, việc phát triển nguồn cung mới cần thời gian và nguồn lực lớn. Hạ tầng nhập khẩu, kho cảng, vận chuyển và tái hóa khí cũng cần được đầu tư đồng bộ. Bên cạnh đó, các dự án LNG có vòng đời dài, trong khi quá trình chuyển dịch năng lượng đặt ra yêu cầu tính toán hiệu quả đầu tư và khả năng chuyển đổi công nghệ trong tương lai.

Theo ông Thập, điểm nghẽn đáng chú ý là tư duy xây dựng, thực thi chính sách và năng lực tổ chức thực hiện chưa theo kịp yêu cầu phát triển, khiến nhiều dự án chậm đưa ra quyết định đầu tư cuối cùng.

Gỡ vướng cơ chế, bảo đảm đầu ra cho dự án

Từ góc nhìn ngành điện, ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, nhấn mạnh điện khí LNG có khả năng vận hành linh hoạt, hỗ trợ các nguồn năng lượng tái tạo và góp phần bảo đảm cung ứng điện ổn định.

34546.jpg
Ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, chia sẻ tại toạ đàm.

Theo thông tin được nêu tại tọa đàm, Việt Nam đặt mục tiêu phát triển khoảng 13 nhà máy điện LNG với tổng công suất khoảng 22.400 MW đến năm 2030. Tuy nhiên, nhiều dự án vẫn gặp khó khăn trong quá trình triển khai. Nếu tiến độ tiếp tục chậm, áp lực bảo đảm điện cho sản xuất và các khu công nghiệp có thể gia tăng, ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của môi trường đầu tư.

Ông Tuấn cho rằng cần hoàn thiện hợp đồng mua bán điện (PPA), cơ chế bao tiêu sản lượng và nguyên tắc chuyển ngang giá khí vào giá điện. Các bên cũng cần nghiên cứu cơ chế giá điện hai thành phần, phản ánh cả sản lượng điện và khả năng sẵn sàng cung cấp công suất. Song song với đó là xây dựng thị trường điện minh bạch, cạnh tranh, giúp nhà đầu tư có cơ sở đánh giá hiệu quả dự án.

Các chuyên gia thống nhất rằng không thể phát triển riêng lẻ từng nhà máy điện mà cần giải quyết đồng bộ toàn chuỗi khí – điện, từ nguồn cung nhiên liệu đến hạ tầng và cơ chế tiêu thụ.

Khơi thông nguồn vốn, hoàn thiện môi trường đầu tư

Một vấn đề quan trọng khác được thảo luận tại tọa đàm là khả năng huy động vốn dài hạn. Ông Nguyễn Văn Phụng, chuyên gia cao cấp về Thuế và Quản trị doanh nghiệp, nguyên Cục trưởng Cục Quản lý thuế doanh nghiệp lớn, cho rằng cần có cơ chế rõ ràng để nhà đầu tư chuyển đổi doanh thu bằng đồng Việt Nam sang ngoại tệ phục vụ thanh toán LNG nhập khẩu, trả nợ vay và thực hiện các nghĩa vụ tài chính.

1791881920354-1982879841204695612-3911985382276239858-9bb2e81bc96679a5bdf5dc958be77541.jpg
Ông Nguyễn Văn Phụng, chuyên gia cao cấp về Thuế và Quản trị doanh nghiệp chia sẻ.

Theo ông Phụng, cơ chế chuyển đổi và hạch toán ngoại tệ minh bạch sẽ giúp nhà đầu tư chủ động hơn trong kế hoạch tài chính. Bên cạnh đó, cơ chế giá cần có những thành phần ổn định và những thành phần điều chỉnh theo thị trường, qua đó phân chia rủi ro hợp lý giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng.

Về giải pháp, TS. Nguyễn Quốc Thập đề xuất ưu tiên tháo gỡ khó khăn cho những dự án có khả năng triển khai trong thời gian gần, sử dụng các dự án này làm cơ sở thực tiễn để hoàn thiện chính sách và nhân rộng mô hình phù hợp.

Tại chương trình, cơ chế mua bán điện trực tiếp đối với các nhà máy điện khí LNG trên địa bàn TP.HCM, theo nghị quyết được đề cập ngày 22/9/2026, được nhìn nhận là một hướng đi có thể tạo thêm điều kiện cho dự án phát triển. Cơ chế này cũng mở ra khả năng kết nối trực tiếp giữa đơn vị sản xuất điện và khách hàng có nhu cầu sử dụng điện ổn định, qua đó thu hút thêm nguồn lực đầu tư.

Bên cạnh LNG, các chuyên gia cho rằng cần tiếp tục phát triển nguồn khí trong nước, khai thác hiệu quả các mỏ đang hoạt động và tận dụng công suất của những nhà máy hiện có. Nhà nước có thể xem xét hỗ trợ phù hợp về tín dụng, thuế và chi phí đất đai, nhưng cần có trọng tâm; ưu đãi thuế không thể thay thế việc tháo gỡ các nút thắt căn bản về cơ chế và dòng tiền.

Các ý kiến tại tọa đàm cho thấy để ngành khí phát triển ổn định và bền vững, cần hoàn thiện thể chế, đầu tư đồng bộ hạ tầng, phát triển thị trường và tạo lập môi trường đầu tư minh bạch, có khả năng dự báo. Đây là những điều kiện quan trọng để khơi thông nguồn lực xã hội, đẩy nhanh các dự án khí – điện, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và phục vụ mục tiêu chuyển dịch năng lượng của Việt Nam.

Xem thêm

Vòi hút cát từ dưới biển lên bãi chứa tại thôn Mỹ Thủy, phun cả ngày lẫn đêm (ảnh Cái Văn Long).

Người dân lo nhiễm mặn từ hoạt động khai thác cát tại cảng Mỹ Thủy

(CLO) Trước tình trạng Công ty Cổ phần Liên doanh cảng Quốc tế Mỹ Thủy, (xã Mỹ Thủy, tỉnh Quảng Trị) hút cát từ biển lên bờ, để xảy ra tình trạng nước mặn xâm nhập ao hồ, mương tưới, đất sản xuất, ảnh hưởng đến cây trồng và đời sống của người dân. UBND xã Mỹ Thủy đã yêu cầu đơn vị thi công tạm dừng ngay việc hút cát.

Dự báo thời tiết ngày 9/10: Quảng Trị tới Huế mưa lớn, cục bộ có nơi trên 300mm

Dự báo thời tiết ngày 9/10: Quảng Trị tới Huế mưa lớn, cục bộ có nơi trên 300mm

(CLO) Ngày 9/10, khu vực từ Hà Tĩnh đến phía Bắc tỉnh Quảng Trị có mưa to đến rất to, cục bộ có nơi trên 150mm; khu vực phía Nam tỉnh Quảng Trị đến TP. Huế cục bộ có nơi trên 300mm. Nền nhiệt toàn khu vực Trung Bộ dao động từ 21–31 độ C, trong mưa dông cần đề phòng nguy cơ cao xảy ra lốc, sét, ngập úng tại các vùng trũng thấp.

Dự báo thời tiết ngày 6/10: Hà Tĩnh đến Huế có mưa lớn trên 200mm

Dự báo thời tiết ngày 6/10: Hà Tĩnh đến Huế có mưa lớn trên 200mm

(CLO) Ngày 6/10, do tác động bởi không khí lạnh, khu vực từ Hà Tĩnh đến TP. Huế dự báo có mưa to và dông với lượng mưa phổ biến từ 50-100mm, cục bộ có nơi mưa rất to trên 200mm. Từ đêm 6/10, vùng mưa lớn mở rộng xuống khu vực từ Quảng Trị đến TP. Đà Nẵng và phía Đông tỉnh Quảng Ngãi.

Dự báo thời tiết ngày 4/10: Bắc Bộ chuyển lạnh, Nam Bộ mưa dông

Dự báo thời tiết ngày 4/10: Bắc Bộ chuyển lạnh, Nam Bộ mưa dông

(CLO) Khoảng chiều tối và đêm 4/10, không khí lạnh sẽ ảnh hưởng đến khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, trời chuyển mưa, nhiệt độ giảm dần xuống 21-24 độ C, vùng núi Bắc Bộ có nơi dưới 18 độ C. Khu vực Nam Bộ tiếp tục có mưa trong ngày, riêng chiều tối và đêm có nơi có mưa to.

Dự báo thời tiết ngày 3/10: Miền Bắc sắp đón không khí lạnh

Dự báo thời tiết ngày 3/10: Miền Bắc sắp đón không khí lạnh

(CLO) Ngày 3/10, miền Bắc tiếp tục duy trì trạng thái ngày nắng, có nơi nắng nóng với nhiệt độ cao nhất từ 32–35 độ C. Từ chiều tối và đêm 4/10, một đợt không khí lạnh sẽ tràn xuống Bắc Bộ và Thanh Hóa đến Huế, gây mưa dông diện rộng và khiến trời chuyển lạnh, vùng núi cao có nơi trời rét từ 14–17 độ C.

Dự báo thời tiết ngày 2/10: TP HCM tiếp tục có mưa dông

Dự báo thời tiết ngày 2/10: TP HCM tiếp tục có mưa dông

(CLO) Ngày 2/10, khu vực TP HCM và các tỉnh Nam Bộ tiếp tục có mưa rào và dông vài nơi, mưa tập trung nhiều về chiều và tối. Theo dự báo, khu vực Nam Bộ vẫn còn mưa dông trong những ngày tới, mưa lớn cục bộ có thể gây ngập ở vùng trũng thấp, khu vực đô thị.

Hà Nội còn nắng nóng đến khi nào?

Hà Nội còn nắng nóng đến khi nào?

(CLO) Hà Nội đã ghi nhận nhiệt độ 38,4 độ C tại trạm Láng trong ngày 30/9. Theo dự báo, khu vực đồng bằng Bắc Bộ vẫn còn nắng nóng trong ngày 1/10.

Cỡ chữ bài viết: