Thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế và quyền của Việt Nam

(NB&CL) Thời gian gần đây, dư luận thế giới đã nhiều lần lên tiếng xung quanh việc Trung Quốc đưa nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 đến khu vực Bãi Tư Chính, xâm phạm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Vậy thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế là gì?

Bài liên quan

Luật Biển và chủ quyền của Việt Nam

Việt Nam thực thi UNCLOS 1982 - Hành trình 25 năm

UNCLOS 1982 - “Hiến pháp của biển”

30 năm - Chuyện về “Cột mốc chủ quyền quốc gia đặc biệt trên biển”

Quan điểm của Việt Nam và góc nhìn của cộng đồng quốc tế

Vùng đặc quyền kinh tế

Công ước của Liên Hiệp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, được thông qua ngày 30/4/1982, được coi như “Hiến pháp về biển và đại dương”, Công ước gồm 17 phần, 320 điều và 9 phụ lục, quy định một cách toàn diện về quy chế pháp lý của các vùng biển cũng như các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia dù có biển, không có biển hay gặp bất lợi về mặt địa lý trong việc sử dụng, khai thác và quản lý biển và đại dương. Cũng trong Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển 1982, các khái niệm về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được quy định rõ ràng, đầy đủ.

Điều 57 Luật Biển 1982 nêu rõ vùng đặc quyền kinh tế không mở rộng quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng đặc thù trong đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt của mình nhằm mục đích kinh tế được Công ước về Luật Biển 1982 quy định.

them luc dia vung dac quyen kinh te va quyen cua viet nam hinh 1

Việt Nam đã, đang triển khai có hiệu quả các hoạt động kinh tế trên biển trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý.

Theo Điều 58 của Công ước, các quốc gia được hưởng các quyền tự do hàng hải và hàng không... Tuy nhiên, khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong vùng đặc quyền kinh tế của nước khác, các quốc gia phải tôn trọng luật và quy định mà quốc gia ven biển đã ban hành theo đúng các quy định của UNCLOS.

Điều 62 của Luật Biển 1982 cũng  quy định quyền chủ quyền về kinh tế bao gồm các quyền đối với khai thác tài nguyên sinh vật, tài nguyên không sinh vật của cột nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển. Mọi tổ chức, cá nhân nước ngoài muốn khai thác tài nguyên trên vùng đặc quyền kinh tế phải có sự xin phép và đồng ý của quốc gia ven biển.    

Thềm lục địa

Công ước Luật Biển 1982 còn quy định thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến mép ngoài của rìa lục địa nhưng không vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở. Trong trường hợp mép ngoài rìa lục địa có khoảng cách chưa đến 200 hải lý, thềm lục địa của quốc gia được tính là vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở, theo điều 76 của UNCLOS.

Quốc gia ven biển thực hiện các quyền chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, tài nguyên không sinh vật như dầu khí, các tài nguyên sinh vật như cá, tôm...) của mình. Vì đây là đặc quyền của quốc gia ven biển nên không ai có quyền tiến hành các hoạt động như vậy nếu không có sự thỏa thuận của quốc gia đó. Nghĩa là chỉ quốc gia ven biển mới có quyền cho phép và quy định việc khoan ở thềm lục địa bất kỳ vào mục đích gì. Tuy nhiên, quốc gia ven biển khi thực hiện quyền đối với thềm lục địa không được đụng chạm đến chế độ pháp lý của vùng nước phía trên, không được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền tự do của các quốc gia khác.

Khi tiến hành khai thác thềm lục địa ngoài 200 hải lý kể từ đường cơ sở, quốc gia ven biển phải nộp một khoản đóng góp tiền hay hiện vật theo quy định của công ước. Quốc gia ven biển có quyền tài phán về nghiên cứu khoa học. Mọi nghiên cứu khoa học biển trên thềm lục địa phải có sự đồng ý của quốc gia ven biển. Tất cả các quốc gia khác đều có quyền lắp đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa. Quốc gia đặt cáp hoặc ống dẫn ngầm phải thỏa thuận với quốc gia ven biển về tuyến đường đi của ống dẫn hoặc đường cáp đó.

them luc dia vung dac quyen kinh te va quyen cua viet nam hinh 2

Quyền của Việt Nam

UNCLOS quy định trong thềm lục địa, quốc gia ven biển thực hiện các quyền chủ quyền với việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên như khoáng sản, dầu khí, tôm cá... của mình. Như vậy, theo quy định của UNCLOS, trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình, Việt Nam có quyền chủ quyền với việc thăm dò, khai thác khoáng sản, dầu khí…

Với đường bờ biển dài 3.260 km cùng nhiều đảo và quần đảo, Việt Nam là một quốc gia ven biển có đầy đủ các quyền và tuân thủ các nghĩa vụ được quy định trong UNCLOS. Theo Công ước, mỗi quốc gia ven biển có 5 vùng biển gồm: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần nhấn mạnh: “Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển 1982 mà Việt Nam và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Do đó, mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển Việt Nam phải tuân thủ các quy định có liên quan của UNCLOS 1982, pháp luật Việt Nam. Mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển Việt Nam nếu không được phép của Việt Nam đều vô giá trị, xâm phạm vùng biển Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982…”

Theo Tiến sĩ Trần Công Trục - nguyên Trưởng Ban Biên giới Chính phủ, các khu vực bãi cạn Tư Chính, Vũng Mây, Quế Đường, Huyền Trân… ở cách bờ biển Việt Nam dưới 200 hải lý, hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán  của Việt Nam.

Nơi đây, Việt Nam đang tiến hành thăm dò khai thác dầu khí và đã xây dựng các cụm dịch vụ  mang tên DK, phù hợp với các quy định  về quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển theo Điều 60 UNCLOS 1982 quy định về các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trong vùng đặc quyền kinh tế và Điều 80 quy định về các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình ở thềm lục địa. Việt Nam có đặc quyền tiến hành xây dựng, cho phép và quy định việc xây dựng, khai thác và sử dụng đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình dùng vào mục đích được trù định ở Điều 56 của UNCLOS 1982 hoặc các mục đích kinh tế khác trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Theo điều 279, 280 của UNCLOS, mọi tranh chấp giữa các quốc gia thành viên về việc giải thích hay áp dụng Công ước đều được giải quyết bằng các phương pháp hòa bình trên cơ sở Hiến chương Liên Hợp quốc. 

Về phía Việt Nam, trong bối cảnh khu vực và quốc tế rất nhạy cảm và phức tạp hiện nay, trước những hành vi vi phạm nói trên, chủ trương nhất quán của Việt Nam là: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển 1982 trước bất cứ hành vi nào xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển được xác định phù hợp với Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển 1982. Việt Nam hết sức coi trọng hòa bình, hữu nghị, hợp tác, thiện chí và sẵn sàng giải quyết các tranh chấp, bất đồng bằng các biện pháp hòa bình.

Đây là chủ trương mang tính nguyên tắc, nhưng khi vận dụng trong thực tế, các lực lượng có liên quan còn xuất phát từ những diễn biến cụ thể về mức độ, phạm vi, tính chất của các vi phạm, tranh chấp… để có phương thức ứng xử thích hợp, hiệu quả.

Trên cơ sở đó, Việt Nam đã triển khai đồng bộ các biện pháp hòa bình để giải quyết vấn đề, đấu tranh yêu cầu  phía Trung Quốc tôn trọng vùng biển Việt Nam, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên vùng biển của mình, không có hành động làm phức tạp tình hình.

Các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam đã và đang thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hòa bình, đúng pháp luật trên vùng biển Việt Nam.      

Phát triển kinh tế biển gắn với phát triển xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh, hợp tác quốc tế về biển cũng là một nội dung quan trọng. Căn cứ các quy định của Công ước, Việt Nam đã và đang tiến hành có hiệu quả và triển khai các hoạt động kinh tế biển trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa 200 hải lý, phục vụ phát triển đất nước. Việt Nam cũng chủ động thúc đẩy hợp tác cùng các bên liên quan trong việc bảo vệ môi trường biển, cứu hộ cứu nạn trên biển, phòng chống thiên tai và triển khai các biện pháp ngăn chặn tội phạm trên biển, góp phần thực hiện đầy đủ các quy định của Công ước. Ngày 22/10/2018, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, thể hiện quyết tâm rất lớn trong việc phát triển bền vững kinh tế biển, đưa Việt Nam mạnh về biển.

        PV

Xem thêm

Hoàn thiện Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, báo cáo Thủ tướng trước ngày 10/7

Hoàn thiện Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, báo cáo Thủ tướng trước ngày 10/7

(CLO) Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Công an và các cơ quan liên quan rà soát kỹ để hoàn thiện Khung kiến trúc, đặc biệt cần tiếp tục lắng nghe ý kiến, phản biện của các doanh nghiệp và chuyên gia, trong đó có các chuyên gia quốc tế; báo cáo Thủ tướng Chính phủ chậm nhất trước ngày 10/7.

Công tác Đảng, công tác chính trị trong toàn quân được triển khai nền nếp, chất lượng

Công tác Đảng, công tác chính trị trong toàn quân được triển khai nền nếp, chất lượng

(CLO) Chiều 3/7, tại Hà Nội, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức Hội nghị sơ kết công tác Đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT) 6 tháng đầu năm 2026. Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị chủ trì hội nghị.

Đổi mới, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên

Đổi mới, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên

(CLO) Thay mặt Bộ Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Kết luận số 58-KL/TW ngày 26/6/2026 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới.

Đại tướng Phan Văn Giang biểu dương các quân nhân tham gia khắc phục hậu quả động đất tại Venezuela

Đại tướng Phan Văn Giang biểu dương các quân nhân tham gia khắc phục hậu quả động đất tại Venezuela

(CLO) Ngày 3/7, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đã gửi thư biểu dương các đồng chí sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp tham gia khắc phục hậu quả động đất tại Venezuela; thể hiện sâu sắc tinh thần quốc tế cao cả, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” trên trường quốc tế.

Tiến độ cải cách hành chính 6 tháng đầu năm 2026 chưa đồng đều giữa các bộ, ngành, địa phương

Tiến độ cải cách hành chính 6 tháng đầu năm 2026 chưa đồng đều giữa các bộ, ngành, địa phương

(CLO) Theo báo cáo của Bộ Nội vụ, trong 6 tháng đầu năm 2026, các bộ, ngành và địa phương đã triển khai nhiều giải pháp nhằm thực hiện chương trình cải cách hành chính. Tuy nhiên, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ giữa các đơn vị vẫn còn chênh lệch, nhiều nơi chưa đạt 50% kế hoạch đề ra.

Bộ Khoa học và Công nghệ đẩy nhanh phủ sóng viễn thông, mở rộng kết nối tới vùng sâu, vùng xa

Bộ Khoa học và Công nghệ đẩy nhanh phủ sóng viễn thông, mở rộng kết nối tới vùng sâu, vùng xa

(CLO) Đến tháng 6/2026, hạ tầng viễn thông tiếp tục được mở rộng với 99,56% số thôn, bản trên cả nước đã được phủ sóng. Bộ Khoa học và Công nghệ đồng thời triển khai nhiều giải pháp xử lý các khu vực lõm sóng và thí điểm dịch vụ Internet vệ tinh quỹ đạo tầm thấp nhằm mở rộng kết nối tới vùng sâu, vùng xa, hải đảo và khu vực khó tiếp cận

Hưng Yên: Quyết liệt bảo vệ hàng chục nghìn héc-ta sản xuất nông - thủy sản trước bão số 01

Hưng Yên: Quyết liệt bảo vệ hàng chục nghìn héc-ta sản xuất nông - thủy sản trước bão số 01

(CLO) Trước dự báo ảnh hưởng của bão số 01 (tên quốc tế là MAYSAK) với lượng mưa phổ biến từ 50 - 100mm từ ngày 3/7 đến hết ngày 5/7, ngành nông nghiệp và các địa phương trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đang khẩn trương triển khai đồng bộ các biện pháp bảo vệ diện tích lúa, hoa màu và nuôi trồng thủy sản nhằm giảm thiểu tối đa thiệt hại. Trước đó, để chủ động ứng phó với cơn bão này, Chủ tịch UBND tỉnh cũng đã ban hành Công điện khẩn số 4174/CĐ-UBND nhằm đôn đốc các cấp, các ngành tuyệt đối không lơ là, chủ quan.

Hưng Yên: GRDP 6 tháng đầu năm tăng 10,72%, an sinh xã hội giữ vững ổn định

Hưng Yên: GRDP 6 tháng đầu năm tăng 10,72%, an sinh xã hội giữ vững ổn định

(CLO) Chiều ngày 3/7, Cục Thống kê tỉnh Hưng Yên đã tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026. Báo cáo từ cơ quan chức năng cho thấy bức tranh kinh tế của địa phương tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ, đồng thời các chính sách an sinh xã hội và đời sống nhân dân được bảo đảm ổn định.

Chủ doanh nghiệp nợ thuế từ 500 triệu đồng trở lên bị hoãn xuất cảnh

Chủ doanh nghiệp nợ thuế từ 500 triệu đồng trở lên bị hoãn xuất cảnh

(CLO) Cá nhân là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp thuộc trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế, có số tiền thuế nợ từ 500 triệu đồng trở lên và số tiền thuế nợ này đã quá thời hạn nộp theo quy định từ 120 ngày trở lên sẽ bị tạm hoãn xuất cảnh.

Xử nghiêm đầu cơ ngoại tệ, hạ giá cước vận tải khi giá xăng dầu giảm

Xử nghiêm đầu cơ ngoại tệ, hạ giá cước vận tải khi giá xăng dầu giảm

(CLO) Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, găm giữ ngoại tệ; Bộ Xây dựng chỉ đạo bắt buộc các doanh nghiệp vận tải phải hạ ngay giá cước tương ứng khi giá xăng dầu giảm. Đồng thời, Bộ Y tế được giao nhiệm vụ kiểm soát chặt chẽ giá thuốc, vật tư và thiết kế lộ trình điều chỉnh viện phí phù hợp với khả năng chi trả của người dân.

AI tự động duyệt tín dụng, chấm điểm học sinh bị xếp vào nhóm rủi ro cao

AI tự động duyệt tín dụng, chấm điểm học sinh bị xếp vào nhóm rủi ro cao

(CLO) Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 33/2026/QĐ-TTg ban hành Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI) có rủi ro cao. Trong đó, hệ thống AI tự động quyết định cấp tín dụng; hệ thống có sử dụng AI tự động kiểm tra, đánh giá kết quả, xếp hạng người học bị xếp vào nhóm có rủi ro cao.

Cỡ chữ bài viết: