Thượng tôn pháp luật quốc tế

(NB&CL) Kế tiếp thời kỳ nhà nước phong kiến Việt Nam, Nhà nước Việt Nam trước sau như một khẳng định nhất quán chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Chủ quyền ấy hoàn toàn phù hợp với tập quán cũng như luật pháp quốc tế về việc xác lập và khẳng định chủ quyền lãnh thổ.

Bài liên quan

Việt Nam thực thi chủ quyền biển đảo

UNCLOS 1982 - “Hiến pháp của biển”

“Đường lưỡi bò” và sự nhìn nhận của thế giới về một yêu sách phi lý

Thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế và quyền của Việt Nam

Luật Biển và chủ quyền của Việt Nam

Việt Nam thực thi UNCLOS 1982 - Hành trình 25 năm

Nhìn lại chiều dài lịch sử

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam gồm nhiều đảo đá lớn nhỏ khác nhau trên Biển Đông. Như đã đề cập trong các số báo trước, trong suốt chiều dài lịch sử, đặc biệt là suốt trong 3 thế kỷ, từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX,các triều đại phong kiến Việt Nam đều đã thực thi chủ quyền Việt Nam một cách thật sự, liên tục và hòa bình đối với 2 quần đảo này, cũng như hơn 1 triệu km vuông Biển Đông. Đơn cử như việc các bản đồ Việt Nam thế kỷ XVII đã gọi hai quần đảo bằng cái tên “Bãi Cát Vàng” và ghi vào địa hạt huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi. Bên cạnh đó, các tài liệu cổ của Việt Nam như Toàn Tập Thiên Nam Tứ chí Lộ Đồ Thư (thế kỷ XVII), Phủ Biên Tạp Lục (1776), Đại Nam Thực Lục Tiền Biên và Chính Biên (1844 - 1848), Đại Nam Nhất Thống Chí (1865-1875), các Châu bản nhà Nguyễn (1802-1945)... đều nói về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như là Bãi Cát Vàng vạn dặm trên Biển Đông. Thêm nữa, các chúa Nguyễn cũng như nhà Nguyễn sau này đều đã liên tục cử người ra cai quản, khai thác các đảo trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhà nước phong kiến Việt Nam đã tổ chức các đội Hoàng Sa, Bắc Hải để thực thi quyền chủ quyền và khai thác hai quần đảo. Các đội này được duy trì và hoạt động liên tục từ thời chúa Nguyễn (1558-1783) đến nhà Tây Sơn (1786-1802) và nhà Nguyễn. Triều đình nhà Nguyễn đã cử các tướng Phạm Quang Ảnh (năm 1815), Trương Phúc Sĩ, Phạm Văn Nguyên, Phạm Hữu Nhật (các năm 1834, 1835, 1836) ra Hoàng Sa khảo sát, đo đạc các đảo, vẽ bản đồ, xây miếu, dựng bia.

thuong ton phap luat quoc te hinh 1

Nhà giàn DK1-21 trên thềm lục địa phía Nam Tổ quốc (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) - Ảnh: Tư liệu

Kế tiếp thời kỳ nhà nước phong kiến Việt Nam, với tư cách là đại diện cho Nhà nước Việt Nam về mặt đối ngoại theo Hiệp ước Patenotre 1884, chính quyền thực dân Pháp đã tiến hành bảo vệ và quản lý 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo đúng thủ tục pháp lý đương đại.

Đến thời kỳ Việt Nam tạm thời chia 2 miền Nam Bắc, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa nằm dưới vỹ tuyến 17 nên các chính thể ở miền Nam Việt Nam, với tư cách là những thực thể có tư cách pháp lý trong quan hệ quốc tế, đã tiếp tục bảo vệ và quản lý 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 1954 - 1975.

Những nỗ lực tích cực từ 44 năm qua

44 năm qua, kể từ khi miền Nam hoàn toàn được giải phóng tháng 4/1975, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã tiếp tục quản lý và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, bằng nhiều hoạt động, vừa bảo đảm đầy đủ và đúng thủ tục trên phương diện đấu tranh pháp lý, vừa củng cố và duy trì sự hiện diện của quân và dân trên các thực thể địa lý đang đặt dưới sự quản lý của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Nhà nước Việt Nam tiếp tục khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, bất kể có sự xâm chiếm, tranh chấp, xây dựng, quân sự hóa của nước ngoài trên một số hòn đảo.

Nhà nước Việt Nam đã ban hành một loạt văn bản pháp quy liên quan đến quy chế các vùng biển, các văn bản pháp quy về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó là Tuyên bố năm 1977 về lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, Tuyên bố năm 1982 về đường cơ sở của Việt Nam, Luật Biên giới quốc gia năm 2003 và một loạt luật, pháp lệnh, nghị định khác. Việt Nam cũng đã tham gia Công ước Luật biển năm 1982 của Liên hiệp quốc, một số công ước đa phương liên quan giao thông hàng hải, an toàn trên biển và Tuyên bố năm 2002 giữa ASEAN - Trung Quốc về ứng xử các bên ở biển Đông (DOC).

Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam; Tuyên bố Việt Nam có quyền kiểm soát hoàn toàn đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (năm 1994) của Bộ Ngoại giao cùng các quyết định về thành lập đơn vị hành chính ở hai quần đảo này, v.v. Trên cơ sở đó, Chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều hoạt động thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa, như: tổ chức triển lãm các hiện vật lịch sử; nghiên cứu, khảo sát điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng; xây bia chủ quyền, thiết lập các ngọn đèn biển và đưa dân ra sinh sống trên các đảo.

Hiện nay, Việt Nam đang quản lý 21 đảo nổi và đảo chìm ở quần đảo Trường Sa. Việc tổ chức tuần tra kiểm soát trên vùng biển của quần đảo được tổ chức chặt chẽ. Nhà nước đã đầu tư xây dựng nhiều trạm đèn biển tại đảo Đá Tây, Đá Lát, An Bang và Tiên Nữ. Trạm khí tượng Trường Sa hoạt động liên tục cung cấp các số liệu khoa học phục vụ cho ngành khí tượng thủy văn trong nước và quốc tế.

thuong ton phap luat quoc te hinh 2

Đảo Trường Sa (huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa). Ảnh: Lê Văn Hùng

Năm 1982, Chính phủ Việt Nam thành lập huyện đảo Hoàng Sa (trực thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng) và huyện đảo Trường Sa (trực thuộc tỉnh Đồng Nai). Hiện nay (sau khi điều chỉnh địa giới hành chính), huyện đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng, huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa. Để đáp ứng sự phát triển của thực tiễn, năm 2007, Chính phủ quyết định thành lập thị trấn Trường Sa cùng hai xã đảo: Song Tử Tây và Sinh Tồn trực thuộc huyện đảo Trường Sa.

Cùng với đó, Việt Nam liên tục đấu tranh khẳng định chủ quyền không tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Liên tục trong các năm 1979, 1981 và 1988, Việt Nam đều công bố Sách trắng về chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, được đông đảo dư luận quốc tế thừa nhận. Ngay sau khi Trung Quốc cho lưu hành bản đồ “đường lưỡi bò” tại Liên hiệp quốc (tháng 5/2009), Việt Nam đã tiến hành triển khai một loạt hoạt động đấu tranh như Phái đoàn ta tại Liên hiệp quốc gửi công hàm cho Tổng thư ký Liên hiệp quốc để lưu hành cho tất cả các quốc gia thành viên. Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi công hàm cho phía Trung Quốc bác bỏ yêu sách đó, khẳng định yêu sách đó hoàn toàn không có giá trị.

Khi Công ước Luật Biển 1982 ra đời, là thành viên Công ước Luật Biển 1982, Việt Nam được quyền có lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý. Diện tích các vùng biển và thềm lục địa mà tại đó Việt Nam được hưởng những quyền lợi đối với vùng biển và tài nguyên theo quy định của Công ước là khoảng gần 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền. “Việt Nam luôn tích cực đấu tranh bảo vệ luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Luật Biển 1982. Theo đó, khi bàn về vấn đề tranh chấp Biển Đông, Việt Nam kiên trì yêu cầu “tôn trọng pháp luật quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982”, coi đây như một nguyên tắc để giải quyết và xử lý các tranh chấp liên quan đến biển đảo” - Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh.

Việt Nam đã nỗ lực đưa nguyên tắc này vào các văn kiện của ASEAN, kể cả “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC); “Tuyên bố 6 điểm ngày 20/7/2012 của ASEAN về Biển Đông”; dự thảo Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC, trong đàm phán Việt Nam và các nước thống nhất nguyên tắc COC phải sử dụng UNCLOS làm cơ sở).

Trong bối cảnh tranh chấp phức tạp hiện nay ở Biển Đông, Bộ Ngoại giao khẳng định Việt Nam các quốc gia cần tôn trọng nguyên tắc thượng tôn pháp luật, mọi yêu sách về biển cần dựa trên các quy định của Công ước Luật Biển 1982. Việc thực thi chủ quyền biển đảo của Việt Nam nói chung, đối với Hoàng Sa, Trường Sa dựa trên những nguyên tắc thượng tôn ấy.

PV (Tổng hợp)

Xem thêm

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc: Hỗ trợ doanh nghiệp phải xử lý đến cùng từng khó khăn, vướng mắc

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc: Hỗ trợ doanh nghiệp phải xử lý đến cùng từng khó khăn, vướng mắc

(CLO) Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhấn mạnh hỗ trợ doanh nghiệp không chỉ là ban hành thể chế, chính sách về quy hoạch, công nghiệp, xây dựng, hạ tầng mà còn phải bảo đảm thực thi thống nhất, xử lý đến cùng từng khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, trên tinh thần tuân thủ pháp luật, công bằng, minh bạch và khẩn trương.

Gỡ điểm nghẽn công nghiệp, xây dựng, hạ tầng: Doanh nghiệp đề xuất một đầu mối xử lý

Gỡ điểm nghẽn công nghiệp, xây dựng, hạ tầng: Doanh nghiệp đề xuất một đầu mối xử lý

(CLO) Tại Hội nghị tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, hạ tầng và quy hoạch, cộng đồng doanh nghiệp kiến nghị tập trung xử lý các điểm nghẽn về quy hoạch, pháp luật, giá vật liệu, định mức và thủ tục đầu tư. Đáng chú ý, đối với mỗi vấn đề liên ngành cần có một cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm đưa ra kết luận cuối cùng cho doanh nghiệp.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Tăng tốc nâng cao năng suất của mỗi doanh nghiệp, mỗi người lao động

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Tăng tốc nâng cao năng suất của mỗi doanh nghiệp, mỗi người lao động

(CLO) Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh: "Nâng cao năng suất là một hành trình lâu dài. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, chúng ta không có lựa chọn nào khác ngoài việc tăng tốc. Tăng tốc ứng dụng khoa học, công nghệ và trí tuệ nhân tạo. Tăng tốc đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tăng tốc chuyển đổi xanh và nâng cao chất lượng. Trên hết, tăng tốc nâng cao năng suất của mỗi doanh nghiệp, mỗi cơ quan và mỗi người lao động Việt Nam".

Từ 15/8, sử dụng AI trong giáo dục phải bảo đảm liêm chính học thuật

Từ 15/8, sử dụng AI trong giáo dục phải bảo đảm liêm chính học thuật

(CLO) Từ ngày 15/8, việc sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để gian lận trong học tập, kiểm tra, đánh giá hoặc nghiên cứu khoa học được xác định là hành vi vi phạm liêm chính học thuật. Các cơ sở giáo dục đồng thời phải xây dựng quy định kiểm soát việc sử dụng AI trong đào tạo và nghiên cứu.

Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai các quy định mới về quản lý công chức, viên chức

Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai các quy định mới về quản lý công chức, viên chức

(CLO) Ngày 14/8, tại Phú Thọ, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội nghị tập huấn công tác quản lý công chức, viên chức, nhằm thống nhất nhận thức và triển khai hiệu quả các quy định mới về tổ chức bộ máy, vị trí việc làm, tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ công chức, viên chức.

Tổ chức, cá nhân phải đáp ứng điều kiện gì để giao dịch trên sàn dữ liệu?

Tổ chức, cá nhân phải đáp ứng điều kiện gì để giao dịch trên sàn dữ liệu?

(CLO) Theo Nghị định mới của Chính phủ, tổ chức, cá nhân muốn tham gia giao dịch trên sàn dữ liệu phải đáp ứng các điều kiện nhất định về tư cách pháp lý, năng lực hành vi và điều kiện kinh doanh. Trong đó, tổ chức cung cấp sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu thuộc ngành, nghề kinh doanh có điều kiện phải được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh theo quy định.

Nhập siêu 7 tháng 20,3 tỷ USD, cần giảm phụ thuộc nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu

Nhập siêu 7 tháng 20,3 tỷ USD, cần giảm phụ thuộc nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu

(CLO) Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập siêu khoảng 20,3 tỷ USD, trong đó nhập khẩu máy tính, sản phẩm điện tử, linh kiện và nhiều nhóm nguyên liệu đầu vào tăng mạnh. Trước thực tế này, các bộ, ngành được yêu cầu thúc đẩy sản xuất trong nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng tỷ lệ nội địa hóa, từng bước giảm phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu.

Hoàn thiện hồ sơ 250 trận đánh lớn, làm giàu cơ sở dữ liệu về liệt sĩ

Hoàn thiện hồ sơ 250 trận đánh lớn, làm giàu cơ sở dữ liệu về liệt sĩ

(CLO) Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà yêu cầu tập trung nghiên cứu, hoàn thiện hồ sơ 250 trận đánh lớn, đồng thời khẩn trương xây dựng, làm giàu cơ sở dữ liệu về liệt sĩ, mộ liệt sĩ và nghĩa trang liệt sĩ, tạo nền tảng phục vụ hiệu quả hơn công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc: Kiểm soát nhập siêu phải gắn với thúc đẩy sản xuất trong nước

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc: Kiểm soát nhập siêu phải gắn với thúc đẩy sản xuất trong nước

(CLO) Để kiểm soát nhập siêu, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc yêu cầu gắn với thúc đẩy sản xuất trong nước. Bộ Công Thương cần làm việc với các doanh nghiệp, tập đoàn có chênh lệch lớn giữa kim ngạch nhập khẩu và xuất khẩu, nhất là trong lĩnh vực máy tính, linh kiện điện tử, để làm rõ nguyên nhân nhập khẩu và tiến độ sản xuất, xuất khẩu tại Việt Nam.

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Điều hành tín dụng linh hoạt, không coi mục tiêu tăng trưởng là 'trần cứng'

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Điều hành tín dụng linh hoạt, không coi mục tiêu tăng trưởng là 'trần cứng'

(CLO) Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước điều hành tăng trưởng tín dụng bám sát mục tiêu năm 2026, nhưng không coi đây là "trần cứng" trong mọi thời điểm; việc điều hành phải chủ động, linh hoạt theo diễn biến thực tế, bảo đảm vốn phải đến đúng lĩnh vực, đúng thời điểm, đúng đối tượng, đúng mục đích với chi phí hợp lý.

Cán bộ cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng về quản trị dữ liệu

Cán bộ cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng về quản trị dữ liệu

(CLO) Khung chương trình đào tạo, bồi dưỡng về quản trị dữ liệu của Chính phủ sẽ có chương trình cho cán bộ, công chức cấp xã nhằm nâng cao năng lực quản lý, cập nhật, chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ, khai thác và bảo vệ dữ liệu, phục vụ quản lý nhà nước, giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công tại địa phương.

Chi tiết 14 lĩnh vực cựu cán bộ công tác tại Bộ Khoa học và Công nghệ không được lập doanh nghiệp sau khi thôi chức

Chi tiết 14 lĩnh vực cựu cán bộ công tác tại Bộ Khoa học và Công nghệ không được lập doanh nghiệp sau khi thôi chức

(CLO) Bộ Khoa học và Công nghệ vừa ban hành Thông tư số 32/2026/TT-BKHCN, quy định danh mục các lĩnh vực và thời hạn người có chức vụ, quyền hạn không được thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã sau khi thôi giữ chức vụ thuộc phạm vi quản lý của Bộ.

Cuộc thi chính luận trong Đảng bộ Chính phủ: Xét giải phải công bằng, khách quan, thực chất

Cuộc thi chính luận trong Đảng bộ Chính phủ: Xét giải phải công bằng, khách quan, thực chất

(CLO) Về Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Đảng bộ Chính phủ lần thứ 2 năm 2026, ông Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực, Trưởng Ban Chỉ đạo Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng yêu cầu việc xét giải phải bảo đảm đúng quy chế, công bằng, khách quan, thực chất, tương xứng với chất lượng tác phẩm và thành tích của tập thể, cá nhân.

Cỡ chữ bài viết: