Đảng ủy Công ty Thủy điện Quảng Trị đã triển khai sinh hoạt chuyên đề “Đảng viên tiên phong học tập kỹ năng số” theo hướng gắn trao đổi với thực hành và kinh nghiệm chuyên môn. Mỗi chi bộ được yêu cầu tổ chức ít nhất một buổi sinh hoạt; đánh giá, rút kinh nghiệm và tiếp tục bồi dưỡng cho đảng viên. Nội dung học tập được đặt trong trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, góp phần tạo môi trường chia sẻ kiến thức tại cơ sở.
Các đợt tập huấn về AI, phần mềm quản lý cán bộ, đảng viên và Sổ tay đảng viên điện tử trong năm 2025, cùng khóa đào tạo “Chiến lược, Lãnh đạo và Quản trị AI” ngày 16/9/2026, bổ sung cơ hội tiếp cận công nghệ mới cho đội ngũ Công ty. Việc sử dụng AI đồng thời đòi hỏi xác định phạm vi dữ liệu được phép khai thác, kiểm chứng kết quả và chịu trách nhiệm đối với sản phẩm công việc.
Với AI, tốc độ tìm kiếm, tổng hợp và xử lý thông tin càng cao thì trách nhiệm kiểm chứng càng quan trọng. Trong tổ chức đảng, tính tiên phong thể hiện qua sự chủ động tiếp cận công cụ, nâng cao trình độ và giúp đồng nghiệp cùng tiến bộ. Đảng viên vận hành học cách phân tích dữ liệu thiết bị; cán bộ tham mưu học cách tổ chức hồ sơ, xử lý văn bản; người phụ trách quản lý học cách sử dụng thông tin để theo dõi và điều hành. Những việc sát với vị trí công tác giúp việc học kỹ năng số có mục đích rõ ràng.
Từ công tác Đảng đến lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị
Đối với tổ chức đảng trong doanh nghiệp, chuyển đổi số trong công tác Đảng và chuyển đổi số trong chuyên môn có phạm vi khác nhau nhưng có mối liên hệ trong thực hiện nhiệm vụ chính trị gắn với sản xuất, kinh doanh. Bởi vậy, những ứng dụng số tại Thủy điện Quảng Trị là dẫn chứng cho việc cụ thể hóa chủ trương đổi mới, huy động đội ngũ và tổ chức thực hiện.
Theo báo cáo chuyển đổi số năm 2025 của Công ty Thủy điện Quảng Trị, thông tin của hơn 5.000 thiết bị đã được cập nhật trên phần mềm quản lý kỹ thuật PMIS; dữ liệu bối cảnh vận hành và các bảng phân tích bảo dưỡng tập trung vào độ tin cậy cũng được xây dựng, cập nhật cho hơn 47 hệ thống. Các hệ thống giám sát trực tuyến máy biến áp, phóng điện cục bộ máy phát, rung và đảo tổ máy bổ sung dữ liệu phục vụ kiểm tra, bảo dưỡng. Dữ liệu thủy văn được số hóa, đồng bộ từ báo cáo vận hành hằng ngày, hỗ trợ điều hành hồ chứa theo quy trình được phê duyệt. Những công cụ ấy tạo thêm căn cứ để cán bộ kỹ thuật, vận hành tra cứu lịch sử thiết bị, phân tích thông số và chủ động nhận diện dấu hiệu bất thường, từ đó theo dõi thiết bị, chuẩn bị bảo dưỡng và phối hợp xử lý nhiệm vụ.
Trong các nghiệp vụ quản trị, ERP và mã QR hỗ trợ quản lý vật tư, tài chính, kế toán. Giá trị thực tiễn phụ thuộc vào việc cập nhật chính xác, khai thác đúng cách và phối hợp giữa các bộ phận; trách nhiệm của người sử dụng luôn gắn với yêu cầu an toàn, hiệu quả.
Giai đoạn 2023-2025, Công ty có 20 sáng kiến được công nhận trong các lĩnh vực kỹ thuật, quản trị và chuyển đổi số. Kết quả này cho thấy hoạt động đổi mới có thể bắt đầu từ yêu cầu của từng vị trí việc làm, đồng thời phản ánh việc phát huy kiến thức, kinh nghiệm và tinh thần chủ động của đội ngũ cán bộ, đảng viên, người lao động.
Tháo gỡ điểm nghẽn để chuyển đổi số đi vào thực chất
Những kết quả từ công tác Đảng đến công tác chuyên môn cho thấy chuyển đổi số tại Công ty Thủy điện Quảng Trị đã từng bước được cụ thể hóa bằng các nhiệm vụ, công cụ và sáng kiến thiết thực. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng bộc lộ những vướng mắc về điều kiện thực hiện, quản trị dữ liệu, mối quan hệ giữa hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử, cùng năng lực của người sử dụng. Nhận diện đúng và từng bước tháo gỡ những điểm nghẽn này là điều kiện để chuyển đổi số đi vào chiều sâu, thay vì dừng ở số lượng thiết bị, phần mềm hay hồ sơ điện tử.
Trước hết là điều kiện thực hiện và trang thiết bị. Quá trình số hóa hồ sơ đảng viên diễn ra trong thời gian tương đối gấp, trong khi thiết bị có thời điểm chưa được bố trí đầy đủ, kịp thời. Vì vậy, mỗi nhiệm vụ chuyển đổi số cần được chuẩn bị phù hợp với khối lượng, tiến độ, nhân lực và tính chất dữ liệu; việc giao mục tiêu phải đi cùng các điều kiện bảo đảm thực hiện.
Thứ hai là chuẩn hóa, phân quyền, khai thác và bảo vệ dữ liệu. Khoảng cách giữa “có dữ liệu” và “khai thác được dữ liệu” phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu, cách tổ chức, trách nhiệm cập nhật, thẩm quyền truy cập và quy định khai thác. Thực tế đặt ra yêu cầu thống nhất cách tạo lập, đặt tên, sắp xếp, kiểm tra, cập nhật và lưu trữ dữ liệu; đồng thời xác định rõ nguồn thông tin chính thức và người chịu trách nhiệm ở từng khâu. Việc kết nối, đồng bộ dữ liệu với cấp ủy cấp trên cần được thực hiện trên hệ thống, hạ tầng được cấp có thẩm quyền cho phép sử dụng, bảo đảm tính thống nhất, an toàn và bảo mật thông tin. Người sử dụng chỉ được khai thác thông tin theo chức năng, nhiệm vụ và phạm vi phân quyền; việc sử dụng dữ liệu cần gắn với xác thực người dùng, kiểm soát truy cập, sao lưu và các biện pháp bảo vệ phù hợp.
Thứ ba là mối quan hệ giữa hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử. Trong giai đoạn chuyển tiếp, hai hình thức có thể cùng tồn tại tùy theo tính chất và quy định đối với từng loại hồ sơ. Mục tiêu không phải loại bỏ bản giấy bằng mọi giá, mà là xác định rõ nội dung có thể xử lý trên môi trường điện tử, nội dung vẫn phải duy trì hồ sơ giấy, giá trị sử dụng của mỗi hình thức và trách nhiệm cập nhật. Việc phân định rõ sẽ góp phần hạn chế thao tác trùng lặp và giảm nguy cơ thông tin không thống nhất.
Cuối cùng là kỹ năng, thói quen và trách nhiệm của người sử dụng. Công nghệ thay đổi nhanh, trong khi mức độ tiếp cận giữa các cá nhân không hoàn toàn giống nhau; một số công cụ cần thời gian để hình thành thói quen sử dụng. Vì vậy, hoạt động đào tạo cần gắn với tình huống và nhiệm vụ thực tế. Đảng viên trẻ và những người có kỹ năng công nghệ có thể hỗ trợ đồng nghiệp, nhưng khả năng thao tác phải đi cùng kiến thức nghiệp vụ, kỹ năng kiểm chứng và kỷ luật bảo vệ thông tin.
Từ những kết quả và điểm nghẽn trên, có thể thấy chuyển đổi số trong công tác Đảng phải được triển khai từ những nhiệm vụ cụ thể, gắn với trách nhiệm của cấp ủy, vai trò tiên phong của đảng viên và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị. Hiệu quả chuyển đổi số không chỉ được đánh giá bằng số lượng hồ sơ điện tử hay tỷ lệ sử dụng ứng dụng, mà phải thể hiện ở chất lượng quản lý đảng viên, tổ chức sinh hoạt và tham mưu phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Điều cần tiếp tục xem xét là dữ liệu có chính xác, công việc có thuận tiện và trách nhiệm của từng người có rõ ràng hơn hay không. Công tác kiểm tra cần giúp phát hiện vướng mắc, điều chỉnh cách làm, tránh hình thức hoặc phát sinh thêm những thao tác không cần thiết.
Với mỗi tổ chức đảng cơ sở, lộ trình chuyển đổi cần phù hợp với điều kiện hạ tầng, nhân lực, nghiệp vụ và đặc điểm dữ liệu. Giá trị của chuyển đổi số không nằm ở số lượng thiết bị, phần mềm hay tệp dữ liệu được tạo ra. Số hóa là bước khởi đầu, không phải đích đến. Chuyển đổi số chỉ phát huy giá trị khi công nghệ được sử dụng có trách nhiệm, dữ liệu được quản lý chính xác, quy trình được tổ chức chặt chẽ và an toàn thông tin được bảo đảm; qua đó góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, tạo cơ sở để Công ty thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất điện và phát triển bền vững.