Giữ vững khí tiết, không khuất phục trước chính quyền thực dân và phong kiến
Cuộc đời, sự nghiệp và nhân cách cụ Huỳnh Thúc Kháng là tấm gương sáng về lòng yêu nước, thương dân, bản lĩnh và tinh thần tận tụy phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Đặc biệt, là tinh thần giữ vững khí tiết, không khuất phục cường quyền.
Minh chứng là năm 1908, phong trào Duy tân cùng các hoạt động vận động dân quyền, phát triển thương nghiệp và giáo dục ở Trung Kỳ bị chính quyền thực dân, phong kiến đàn áp mạnh mẽ, đặc biệt sau khi phong trào chống sưu thuế bùng nổ.
Ngày 24/2/1908, cụ Huỳnh Thúc Kháng bị bắt và giải về nhà lao Hội An. Dù bị giam cầm, tra hỏi và xét xử trong điều kiện không có đầy đủ chứng cứ, cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn giữ vững khí tiết, không khuất phục trước chính quyền thực dân và phong kiến. Tháng 6/1908, cụ bị kết án đày ra Côn Đảo; đến tháng 9/1908, cụ bị đưa ra đảo, bắt đầu 13 năm lưu đày.
Trong 13 năm bị giam cầm tại Côn Đảo (1908 - 1921), dù bị tước đoạt tự do và phải chịu lao động khổ sai, cụ không khuất phục trước tù đày, coi đó là môi trường rèn luyện ý chí, tiếp tục học tập, sáng tác và giữ vững tinh thần của người yêu nước. Cụ biến nhà tù thành trường học, tích cực tự học tiếng Pháp, nghiên cứu sách báo, sáng tác văn thơ và trao đổi tư tưởng với các chí sĩ yêu nước nhằm nuôi dưỡng chí khí đấu tranh cho tương lai dân tộc.
Trở về sau 13 năm tù đày, cụ Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục kiên trì đấu tranh đòi dân quyền và cải cách xã hội. Năm 1926, Cụ được bầu làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Trên diễn đàn nghị trường, Cụ thẳng thắn đấu tranh đòi quyền lợi cho Nhân dân, phản đối các chính sách bóc lột bất công của chính quyền thực dân. Khi nhận thấy giới hạn bị bóp nghẹt của Viện Dân biểu, Cụ đã từ chức vào năm 1928 để thể hiện thái độ phản kháng kiên quyết.
Cũng thời gian đó, năm 1927, cụ sáng lập tờ báo Tiếng dân để vạch trần tội ác cũng như đấu tranh chống thực dân Pháp và tay sai, đòi quyền tự do, dân chủ cho nhân dân. Báo tập trung phản ánh những vấn đề bức thiết của đời sống xã hội, nhất là tình trạng áp bức, bóc lột, thuế khóa, kinh tế, xã hội và những bất công đối với Nhân dân.
Tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân sĩ, trí thức và nhân dân, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Một trong những cống hiến nổi bật của cụ Huỳnh Thúc Kháng là vai trò tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân sĩ, trí thức và nhân dân, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trong thời gian giữ trọng trách Quyền Chủ tịch nước, cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh góp phần tập hợp các lực lượng yêu nước, đặt lợi ích chung của Tổ quốc lên trên khác biệt về chính kiến, tổ chức hay tầng lớp. Cụ nhận thức rõ rằng khi đất nước vừa giành được độc lập, bên ngoài còn nhiều thế lực đe dọa, sự chia rẽ trong nội bộ sẽ trở thành hiểm họa. Cụ từng cảnh báo: “ngoài ngõ, trộm cướp đang rình rập, nếu trong nhà anh em bất hòa, xâu xé nhau, thì thật là họa lớn cho dân tộc” và “nước nhà độc lập mà trong nước phái nọ đả kích phái kia thật là một điều bất hạnh”.
Ngày 29-5-1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt) được thành lập, cụ Huỳnh Thúc Kháng được bầu làm Hội trưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Hội trưởng danh dự. Đây là dấu mốc quan trọng trong quá trình mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp các tầng lớp xã hội, nhân sĩ, trí thức và những người yêu nước cùng tham gia sự nghiệp chung. Trên cương vị Hội trưởng, cụ góp phần củng cố sự đồng thuận xã hội, khơi dậy tinh thần trách nhiệm công dân và tạo điều kiện để những người yêu nước phát huy tài năng, trí tuệ, đóng góp cho đất nước.
Theo Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu - Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam- cuộc đời và sự nghiệp của cụ Huỳnh Thúc Kháng để lại nhiều bài học có giá trị lâu dài. Trước hết, đó là bài học về lòng yêu nước gắn với hành động thực tiễn. Yêu nước không chỉ là tình cảm, lời nói hay sự khẳng định lập trường, mà phải được thể hiện bằng trách nhiệm, sự dấn thân và những đóng góp cụ thể cho cộng đồng, dân tộc.
Thứ hai, bài học về trọng dụng nhân tài và phát huy sức mạnh đại đoàn kết. Khi vận mệnh đất nước đứng trước thử thách, việc quy tụ những người có năng lực, uy tín và lòng yêu nước là yêu cầu sống còn.
Thứ ba, bài học về bản lĩnh, nguyên tắc và sự linh hoạt trong lãnh đạo, quản lý. Việc thực hiện “Dĩ bất biến ứng vạn biến” gợi mở phương pháp xử lý những vấn đề phức tạp: Kiên định mục tiêu, giữ vững lợi ích cốt lõi của quốc gia, dân tộc, nhưng chủ động điều chỉnh cách thức, bước đi và giải pháp theo tình hình thực tiễn.
Thứ tư, bài học về đạo đức công vụ và trách nhiệm phụng sự nhân dân. Cụ Huỳnh Thúc Kháng nhận trọng trách khi tuổi đã cao, trong điều kiện đất nước gian nan, nhưng vẫn tận tụy với công việc, không đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích chung. Đó là lời nhắc nhở đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay về trách nhiệm nêu gương, liêm chính, tận tâm, gần dân, trọng dân, lắng nghe dân và hành động vì lợi ích chính đáng của nhân dân.
Thứ năm, bài học về kết hợp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong buổi đầu độc lập, cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng Chính phủ vừa xây dựng bộ máy nhà nước, củng cố trật tự xã hội, vừa góp phần bảo vệ chính quyền và nền độc lập trước những thách thức nghiêm trọng.